Giới thiệu chung

 

LỜI TỰA


Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt, ngày 19-5-1971, trên mảnh đất lịch sử Hương Phú, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, Công trường 71C , (nay là Công ty Cổ phần 471, trực thuộc Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông 4) chính thức được thành lập. Đơn vị có nhiệm vụ cấp bách mở đường 71, đường mòn Hồ Chí Minh thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, thực hiện sứ mệnh thiêng liêng, cao cả lúc bấy giờ là đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt, phục vụ chiến trường miền Nam. Trong những năm tháng ác liệt, đầy hiểm nguy, gian khổ ấy, với tinh thần: “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “ Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm”; “ Tim có thể ngừng đập, nhưng đường không thể tắc”, tập thể cán bộ, công nhân viên Công trường 71C đã khắc phục mọi khó khăn, nguy hiểm, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng, vẫn liên tục đảm bảo mạch máu giao thông, mở đường cho xe ra tiền tuyến. Những năm tháng ác liệt đó, đơn vị đã làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.
Bốn mươi năm đã trôi qua, sự sống đã hồi sinh trên những cung đường máu lửa năm nào, màu xanh đã trở lại trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại, Công trường 71C , với tên mới hôm nay là Công ty Cổ phần 471 đã có bước tiến dài trong phát triển sự nghiệp. Mang theo hào khí nhiệt huyết, vững chí, kiên gan của những năm tháng gian khổ mở đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, trong hoà bình xây dựng, được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của các bộ, ngành trung ương, của lãnh đạo tỉnh, đặc biệt là đơn vị quản lý trực tiếp - Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 4, đội ngũ CBCNV Công ty Cổ phần 471 hôm nay lại tiếp tục khẳng định thương hiệu của mình trên trận tuyến mới, không ngừng đưa Công ty phát triển hùng mạnh. Với một lực lượng cán bộ, kỹ sư có năng lực, trình độ, tâm huyết, tận tuỵ, đội ngũ công nhân lành nghề, có trách nhiệm, Công ty Cổ phần 471 đã đảm đương thi công những công trình giao thông hiện đại, có tầm cỡ quốc gia, quốc tế, ngày càng khẳng định thương hiệu mạnh trong lĩnh vực xây dựng các công trình giao thông của cả nước.
Để ôn lại truyền thống lịch sử trong những năm tháng hào hùng mở đường đánh giặc, cũng như sự phát triển không ngưng nghỉ của đơn vị trong hoà bình xây dựng, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Công trường 71C (Công ty Cổ phần 471) và đón nhận phần thưởng cao quý-Huân chương Độc lập hạng Ba do Chủ tịch nước trao tặng, được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, Đảng uỷ, Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc Công ty Cổ phần 471 cho ra mắt bạn đọc cuốn Kỷ yếu lịch sử của đơn vị, mang tựa đề :
Công ty Cổ phần 471- Bốn mươi năm xây dựng và phát triển
Tuy nhiên, 40 năm là chặng đường dài, trong khi đó, công việc sưu tầm, chuẩn bị tài liệu có thể chưa được đầy đủ để táí hiện quá trình xây dựng và phát triển của đơn vị như mong muốn. Với những thông tin, tư liệu thể hiện trong cuốn sách nhỏ này, Ban biên tập hy vọng sẽ giúp các thế hệ cán bộ, công nhân viên Công ty hiểu hơn về truyền thống, sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ đi trước đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống cho mỗi cán bộ công nhân viên, khơi dậy lòng tự hào của mỗi người về truyền thống của một dơn vị anh hùng, đồng thời xin là nén tâm nhang gửi lời tri ân sâu sắc tới 27 cán bộ công nhân viên đã ngã xuống trên những cung đường máu lửa năm nào, và hàng trăm cán bộ công nhân viên Công ty đã hy sinh một phần cơ thể cho sự nghiệp giao thông vận tải nước nhà trong những năm bom đạn ác liệt.
Ban biên tập mong nhận được sự cảm thông, chia sẻ, sự góp ý chân thành của các bậc lãnh đạo tiền nhiệm, các thế hệ cán bộ công nhân viên Công ty, để cuốn kỷ yếu ngày càng hoàn thiện hơn.

Ban biên tập


CÔNG TY CỔ PHẦN 471

BỐN MƯƠI NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN


PHẦN I : THỜI KỲ TỪ 1971 – 1975


ĐẢM BẢO MẠCH MÁU GIAO THÔNG, TẤT CẢ VÌ MIỀN NAM RUỘTTHỊT
Ký ức xanh!
Ai đã một lần có mặt ở Trường Sơn trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, mới hiểu sự hy sinh, mất mát, sự chịu đựng gian khổ, hiểm nguy của bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến trên những cung đường máu lửa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt, với những cán bộ, kỹ sư, công nhân cầu đường làm nhiệm vụ đảm bảo mạch máu giao thông, mở đường cho xe ra tiền tuyến, thì sự hy sinh lại càng lớn lao hơn nữa. 40 năm đã trôi qua, nhưng bao kỷ niệm của một thời gian khổ, hiểm nguy, nhưng rất đỗi hào hùng trên cung đường Hồ Chí Minh huyền thoại như còn tươi mới trong tâm khảm mỗi cán bộ,công nhân Công trường 71c ngày ấy.
… Thời điểm cuộc chiến tranh đang bước vào giai đoạn ác liệt, chiến trường Miền Nam đang sục sôi chống Mỹ, để đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức của cho chiến trường Miền Nam, một nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải mở đường, đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt. Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách, thiêng liêng đó, trên vùng quê cách mạng Hương Phú- huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 5 năm 1971, Công trường 71c (nay là Công ty Cổ phần 471, trực thuộc Tổng Công ty XDCTGT 4) được thành lập theo Quyết định số 610/QĐ-TCCB ngày 19-5-1971, thuộc Cục Công trình - Bộ Giao thông Vận tải.
Mảnh đất Hương Khê - nơi Công trường đứng chân những ngày đầu thành lập là huyện miền núi của huyện Hà Tĩnh, phía Tây Nam tỉnh Hà Tĩnh, Bắc giáp huyện Vũ Quang và Can Lộc, Nam giáp tỉnh Quảng Bình, Tây giáp nước bạn Lào, Đông giáp huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Nơi đây, điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, từng được mệnh danh là “chảo lửa, túi mưa”, đất cằn sỏi đá, nhưng người dân Hương Khê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, thông minh, hiếu học, chịu thương, chịu khó, trọng nghĩa tình.
Những ngày đầu gian khổ mới thành lập, cán bộ, công nhân Công trường 71 c đã được Đảng bộ và nhân dân Hương Khê cưu mang, đùm bọc, tạo mọi điều kiện để đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của mình. Quên sao được những tháng năm gian khổ nhưng ắp đầy kỷ niệm trên vùng đất Hương Khê- một vùng quê nhân nghĩa, phong cảnh hữu tình với dòng sông Tiêm hiền hòa, thơ mộng, sông Ngàn Sâu trắng thơm mùi hoa bưởi. Mỗi ngọn núi, dòng sông nơi này như một chứng nhân lịch sử luôn gợi nhớ những năm tháng đầy cam go, thử thách đối với những người lính cầu đường thời trận mạc.
Ai đã một lần có mặt ở Trường Sơn trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, mới hiểu sự hy sinh, mất mát, sự chịu đựng gian khổ, hiểm nguy và cả sự hy sinh vô bờ bến của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với những cán bộ, công nhân viên ngành cầu đường trực tiếp làm nhiệm vụ đảm bảo mạch máu giao thông mở đường cho xe ra tiền tuyến, thì sự hy sinh, nguy hiểm lại càng lớn lao hơn.
Bốn mươi năm đã trôi qua, bao kỷ niệm của một thời gian khổ, hiểm nguy, nhưng rất đỗi hào hùng trên cung đường Hồ Chí Minh huyền thoại như còn tươi mới trong tâm khảm mỗi cán bộ, công nhân Công trường 71C ngày ấy.
Vào thời điểm cuộc chiến tranh ở vào giai đoạn ác liệt nhất, chiến trường miền Nam sục sôi chống Mỹ. Để đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải mở đường, đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt, liên tục.
Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách, thiêng liêng đó, trên mảnh đất lịch sử Hương Phú- huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 5 năm 1971, Công trường 71C (nay là Công ty Cổ phần 471, trực thuộc Tổng Công ty XDCT GT 4) được thành lập theo Quyết định số 610/QĐ-TCCB ngày 19-5-1971, thuộc Cục Công trình - Bộ Giao thông vận tải.
Công trường có nhiệm vụ xây dựng đường 71 (tức đường 15C) dài 264 cây số dọc theo dãy Trường Sơn, tiếp nối với công trường 71A địa bàn huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương (Nghệ An), 71B qua Hương Sơn, (Hà Tĩnh), nhằm phá thế độc tuyến, đảm bảo giao thông thông suốt phục vụ chiến trường miền Nam. Phần tuyến của Công trường 71c dài 40 km từ điểm đầu Hói Trùng địa phận xã Hương Hòa đến điểm cuối vượt đèo Mục Bài giáp tỉnh Quảng Bình. Ngoài ra, đơn vị còn trực tiếp tham gia mở 200 km đường Trường Sơn lịch sử, đảm bảo giao thông các tuyến 15A, 21, 22, với các trọng điểm bị đánh phá ác liệt nhất như ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Thình Thình, phà Địa Lợi, ngầm La Khê, Tân Đức, Khe Tang, Rào Bội... phục vụ hậu cần chi viện chiến trường miền Nam.
Lực lượng chủ yếu của Công trường được tập hợp từ các Tổng đội TNXP, dân công hoả tuyến tuổi đời còn rất trẻ. Quân số toàn Công trường có khoảng 1500 người, biên chế thành 7 đội, rải đều trên suốt chiều dài tuyến đèo, dốc hiểm trở. Nhiều đoạn bám sát bờ hữu ngạn sông Tiêm.
Mảnh đất Hương Khê - nơi Công trường đứng chân những ngày đầu thành lập là huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Hà Tĩnh, Bắc giáp huyện Vũ Quang và Can Lộc, Nam giáp tỉnh Quảng Bình, Tây giáp nước bạn Lào, Đông giáp huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Nơi đây, điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, từng được mệnh danh là “chảo lửa, túi mưa”, đất cằn sỏi đá, nhưng người dân Hương Khê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, thông minh, hiếu học, chịu thương, chịu khó, trọng nghĩa tình.
Những ngày đầu mới thành lập muôn vàn gian khó. Cán bộ, công nhân Công trường 71C đã được Đảng bộ và nhân dân Hương Khê cưu mang, đùm bọc, tạo mọi điều kiện để đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của mình. Quên sao được những tháng năm gian khổ nhưng ắp đầy kỷ niệm trên vùng đất Hương Khê-một vùng quê nhân nghĩa, phong cảnh hữu tình với dòng sông Tiêm hiền hòa, thơ mộng. Sông Ngàn Sâu “trắng thơm mùi hoa bưởi„ xuyên dọc huyện Hương Khê từ phía Đông Nam nơi tiếp giáp Quảng Bình ngược lên Tây Bắc. Mỗi ngọn núi, dòng sông nơi đây như một chứng nhân lịch sử luôn gợi nhớ những năm tháng đầy cam go, thử thách đối với những người lính cầu đường thời trận mạc.
Hẳn trong ký ức những người trong cuộc vẫn vẹn nguyên khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của một thời cả nước ra trận trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Với quyết tâm: “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, cán bộ, công nhân Công trường 71C đã góp phần làm nên huyền thoại trên tuyến đường mang tên Bác kính yêu.
Quên sao được những tháng năm gian khổ, vai khoác ba lô, gậy Trường Sơn trong tay, những kỹ sư, cán bộ, công nhân Công trường 71C đã không quản ngại hiểm nguy, trèo đèo, lội suối, chịu đựng gian khổ, “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, để giữ vững mạch máu giao thông đưa những đoàn xe ra mặt trận. Với những cán bộ, công nhân Công trường 71C, những địa danh như ngã ba Đồng Lộc, đường 20-7, đường Khe Giao, Tân Đức, phà Địa Lợi, Rào Bội, La Khê...đã trở nên gần gũi, thiêng liêng, bất tử, gắn với những năm tháng gian lao, với bao mồ hôi, nước mắt, và cả máu trên những cung đường máu lửa.
Quên sao được những trưa hè gió Lào ràn rạt thổi, cái nắng miền Trung như “sấy chín thịt da„, hay những đêm đông thức trắng, lạnh cóng buốt xương, đói, khát, nhưng các kỹ sư, công nhân Công trường vẫn leo lên “túi bom” động Nhà Hè, đèo Mục Bài mở con đường mới cho xe ra tiền tuyến.
Quên sao được những làng quê đất cằn sỏi đá, người dân Hương Khê chân chất, lam lũ nghèo khó quanh năm nhưng ấm đượm tình người, hết lòng yêu thương, giúp đỡ, chở che đùm bọc cán bộ, công nhân Công ty trong những ngày đầu gian khó.
Quên sao được những chàng trai, những cô gái thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến tuổi mười tám, đôi mươi phơi phới sức xuân, ngày đêm cận kề bom đạn, đối mặt với cái chết, vẫn quyết tử để giữ vững mạch máu giao thông, bởi với họ, “Tim có thể ngừng đập, nhưng đường không thể tắc”. Con đường giao liên Trường Sơn Đông dọc Hương Khê qua Phúc Trạch vào Quảng Bình nối liền đường 559 đêm đêm rầm rập bước chân của những đoàn quân ra trận.
Với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với khí thế của cả dân tộc cùng ra trận, chính trong những ngày gian khổ ấy, dưới làn mưa bom bão đạn, cán bộ công nhân viên Công trường 71C đã cùng “chia cơm, chia lửa, chia hầm”, không quản hiểm nguy, ngày đêm giữ vững mạch máu giao thông thông suốt, để nối nhịp cầu hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Và cũng chính trên cung đường máu lửa này, có biết bao CBCNV của Công ty đã vĩnh viễn nằm lại, nhiều người suốt đời mang trên mình thương tích chiến tranh, gửi lại tuổi thanh xuân cho mạch máu giao thông trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Máu đào của các anh, các chị đã tô thắm thêm màu cờ Tổ Quốc, tô đẹp thêm truyền thống của đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới hôm nay.
Tuy chỉ hai năm đứng chân trên vùng đất Hương Khê, nhưng CBCNV Công trường 71C đã lưu dấu biết bao kỷ niệm vui buồn, đã được Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân địa phương chở che, đùm bọc, hết lòng yêu thương, giúp đỡ. Ngược lại, cán bộ công nhân viên Công trường cũng đã cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân địa phương, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh thiêng liêng của mình trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Chúng ta không thể nào quên cái ngày chia tay tháng 3 năm 1973 đầy bịn rịn ấy giữa cán bộ công nhân viên Công trường với đồng bào vùng sơn cước-Hương Khê-vùng quê ân nghĩa, để lại tình cảm tốt đẹp trong lòng người dân nơi đơn vị đứng chân. Trong ngày vui hôm nay, hẳn mỗi chúng không khỏi bùi ngùi xúc động nhớ lại những năm tháng gian khổ nhưng hào hùng trên mảnh đất Hương Khê. Càng trân trọng và biết ơn những tình cảm đồng bào đã dành cho đơn vị : “đi dân nhớ, ở dân thương„
Mở đường thắng Mỹ
1, Nhiệm vụ cấp bách-Đảm bảo mạch máu giao thông.
Được thành lập theo Quyết định 619/QĐ-TCCB, ngày 19-5-1971, với tên gọi Công trường 71 c, trực thuộc Cục Công trình- Bộ Giao thông Vận tải, Công trường có trụ sở đầu tiên tại xã Hương Phú- huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, có nhiệm vụ xây dựng đường 71 (tức đường 15c) dài 264 km, dọc theo dãy Trường Sơn, tiếp nối với Công trường 71A địa bàn huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương ( Nghệ An); 71 B qua Hương Sơn (Hà Tĩnh), nhằm phá thế độc tuyến, đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt. Phần tuyến của Công trường dài 40 km däc suèt huyÖn H­¬ng Khª từ điểm đầu Hói Trùng địa phận xã Hương Hoà đến điểm cuối vượt đèo Mục Bài giáp tỉnh Quảng Bình. Ngoài ra, đơn vị còn trực tiếp tham gia mở 200 km đường Trường Sơn, đảm bảo giao thông các tuyến 15, 21, 22, với các trọng điểm bị địch đánh phá ác liệt nhất như ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Thình Thình, phà Địa Lợi, ngầm La Khê, Tân Đức, Khe Tang, Rào Bội...,đảm bảo giao thông cho chiến trường Miền Nam.
Ngày đầu thành lập với lực lượng chính toàn công trường khoảng 1.500 quân chủ yếu lấy từ các Tổng đội TNXP, dân công hoả tuyến được biên chế thành 7 đội, rải đều trên suốt chiều dài tuyến đèo, dốc hiểm trở. Công trường bộ lúc đó gồm 8 phòng ban chuyên môn nghiệp vụ : Tổ chức nhân sự - Bảo vệ vũ trang, Đời sống, Kế hoạch, , Kế toán tài vụ, Lao động - Tiền lương, Vật tư. Phòng Kỹ thuật đông nhất, với 26 người, trong đó có 5 kỹ sư cầu đường, 14 cán bộ trung cấp kỹ thuật, 1 tổ khảo sát, đo đạc gồm 6 công nhân, 2 người chuyên can, vẽ hồ sơ tài liệu thiết kế và giúp việc văn phòng được đào tạo theo hệ chính qui, bài bản. Ngoài ra, một tổ thông tin và bộ phận Tổng đài thuộc phòng Hành chính Quản trị trực đảm bảo liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, một xưởng sữa chữa ô tô, xe máy đặt cạnh con đường liên huyện. Bệnh viện Công trường cũng được khẩn trương xây dựng, với quy mô 50 giường bệnh, cùng với 30 y, bác sĩ, y tá, hộ lý, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cán bộ công nhân viên . Nhà kho, nhà ở, nơi làm việc của các phòng, ban, bệnh viện... được xây dựng xen kẽ theo cụm dân cư. Tất cả đều bằng tranh tre, nứa, mét, thưng lợp khang trang, đảm bảo vệ sinh, thông thoáng, sạch sẽ, nền nếp, năng động, phù hợp hoàn cảnh thời chiến. Đầu mỗi nhà ở đều bố trí hầm chữ A thông với hệ thống giao thông hào liên thôn, liên xã để phòng tránh máy bay khi xảy ra chiến sự. Các đơn vị sản xuất được giao khoán công việc theo khối lượng, tiến độ từng đoạn tuyến thi công. Đội bê tông chuyên đúc ống cống và cấu kiện đặt tại thị trấn Hương Phố “trên bến, dưới thuyền„ thuận lợi cho việc tập kết, vận chuyển vật liệu, sản phẩm bê tông đi các nơi.
Tháng 3 năm 1972, Ban Chỉ huy Công trường tiếp nhận đội sản xuất đá Tân Đức nhằm chủ động đáp ứng kịp thời nhu cầu vật liệu cho công trường. Các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ cùng Tư vấn giám sát, tổ thiết kế thường trực (Ban Kiến thiết 226) theo chức năng nhiệm vụ ngày đêm bám sát hiện trường chỉ đạo sâu sát đơn vị hoàn thành công trình đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng.
Các đồng chí lãnh đạo Công trường, Bí thư Đảng uỷ Lê Văn Phú, Chỉ huy trưởng Trần Kinh, phó Chỉ huy trưởng Lê Văn Viết đều là những cán bộ miền Nam tập kết đã được tôi luyện qua chiến tranh quen nếp sống giản dị, thuỷ chung, cảm thông, chia sẻ với anh em, dám nghĩ, dám làm, luôn được mọi người tin yêu. Các đồng chí phó Chỉ huy Công trường Lê Văn Thiệu, Nguyễn Đình Tuyển, Bùi Diệm, Thư ký Công đoàn Trần Đình Luyện, Bí thư Đoàn Thanh niên Bùi Minh Giám... cũng là những người từng trải, có kinh nghiệm thực tiễn, luôn bám sát công việc, bám hiện trường trên từng cây số, cùng đồng cam cộng khổ với anh chị em công nhân.
Tuyến thi công của đơn vị kéo dài qua nhiều đèo dốc hiểm trở, cây cối rậm rạp, lại bị địch đánh phá ác liệt suốt ngày đêm, mọi sinh hoạt theo thời chiến, thiếu thốn trăm bề. Những bữa cơm trực chiến đảm bảo giao thông ăn vội trên đèo, dốc, khe suối, độn mì hạt, sắn, ăn với canh rau tàu bay hoặc vài miếng lương khô 701, 702 do Trung Quốc viện trợ. Báo chí không đủ, thậm chí không có để đọc, thiếu thông tin trầm trọng, chỉ một vài đồng chí là lãnh đạo mới có đài theo dõi tin tức. Cán bộ kỹ thuật các đội sản xuất, kỹ thuật đoạn, kế hoạch tác nghiệp, lao động tiền lương... ngày ngày đi kểm tra, chỉ đạo thi công trên tuyến vai khoác ba lô, trèo đèo, vượt suối hai, ba mươi cây số là thường. Nhiều đêm pháo sáng, máy bay địch gầm rít, bom dội, đồng đội nhường nhịn nhau trong những căn hầm chật hẹp, tinh sương lại tiếp tục lại ra hiện trường xẻ núi, mở đường, đảm bảo giao thông, giải phóng các đoàn xe ra mặt trận. Gian nan nhất là đội sản xuất bê tông ở Hương Phố. Nơi này luôn là mục tiêu bị địch đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm. Từ thực tế đó mặt bằng bãi đúc bê tông lập tức được nguỵ trang chia nhỏ, lẻ kiểu dã chiến theo từng tổ. Sản phẩm làm ra phải bằng mọi cách nhanh nhất để có thể vận chuyển ngay tới hiện trường. Có thời gian bị địch đánh phá quá dữ, Ban chỉ huy Công trường đã quyết định giao các đội tổ chức đúc ống cống, cấu kiện bê tông tại chỗ để đảm bảo tiến độ và chất lượng.
Trong hoàn cảnh mưa bom bão đạn, hiểm nguy luôn rình rập, cái chết cận kề, nhưng có thể nói ý thức trách nhiệm với công việc, với tập thể : “Mình vì mỗi người, mỗi người vì mình” đã thực sự thấm sâu, lan toả mạnh mẽ trong tất cả CBCNV Công trường ở mọi lúc, mọi nơi. Ngày ấy, các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ ra họp, làm việc ở cơ quan Cục (tại xã Nam Giang, Nam Đàn) xa hàng trăm cây số, phải đi qua nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt, có khi phải đi nhờ xe chở hàng từng chặng, hoặc đạp xe đạp, vậy mà vẫn vui, không quản ngại khó khăn, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Các y, bác sĩ, y tá, hộ lý bệnh viện phần đông vừa ra trường còn rất trẻ và chưa có kinh nghiệm, nhưng họ rất năng nổ, nhiệt tình, ngày đêm lăn lộn, chịu khó tận tuỵ với công việc, hết lòng thương yêu đồng đội, giúp đỡ người bệnh. Đội ngũ y, bác sỹ cắt cử nhau túc trực 24/24 giờ trên các tuyến trọng điểm địch đánh phá ác liệt, cấp cứu kịp thời những ca bị thương nặng, bệnh hiểm nghèo. Anh em trong tổ đường dây thông tin, nhân viên tổng đài, cán bộ, nhân viên cung ứng vật tư không quản ngày đêm vất vả, dưới tầm pháo sáng, tiếng gầm rú của máy bay địch, bom đạn, nhưng đã kịp thời nối lại đường dây thông tin, đảm bảo các chuyến hàng về đích đúng tiến độ. Bộ phận hậu cần, nhà ăn tập thể, trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, đã đầu tư suy nghĩ, tìm tòi, cải thiện các món ăn đảm bảo cả chất và lượng.
Mặc dù công việc dồn dập, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, khó khăn nhưng Đoàn thanh niên vẫn tổ chức sinh hoạt phân đoàn, chi đoàn đều đặn. Hàng quý, mỗi chi đoàn thanh niên đều ra được một tờ báo tường, kịp thời phản ánh cuộc sống lao động mọi mặt của CBCNV trên công trường, với sự tham gia viết tin, bài tích cực của đông đảo đoàn viên, thanh niên. Nhiều bài hát, bài thơ hay do anh em tự sáng tác thực sự đi vào lòng người, được đăng trên các báo và dự hội diễn Liên hoan tiếng hát khu vực toàn ngành Giao thông vận tải và Cục Công trình. Công đoàn cơ sở tổ chức các giải bóng chuyền nội bộ, thỉnh thoảng mời các đoàn văn công, ca múa nhạc về biểu diễn tại nơi đơn vị đóng quân. Được sự quan tâm, tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo đơn vị, phong trào văn nghệ quần chúng phát triển và luôn được đông đảo cán bộ công nhân viên chức hưởng ứng tích cực, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho CBCNV, tình cảm quân dân ngày càng gắn bó sâu nặng. Đặc biệt, sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đã kịp thời ngăn chặn được những tư tưởng lệch lạc, ngại khó, ngại khổ, giải quyết những vướng mắc, khó khăn nảy sinh trong cuộc sống thường ngày của cán bộ công nhân viên, đặc biệt đối với lớp trẻ, giúp họ ổn định tư tưởng, yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề, gắn bó với cơ quan. Có thể nói, giữa đại ngàn sâu thẳm, trước muôn vàn gian khó, cái chết cận kề trong gang tấc, những lời ca, tiếng hát của anh chị em công nhân đã thực sự át tiếng bom. Những người lính Trường Sơn, những người thợ cầu đường đã “vịn” vào câu thơ, bài hát để ra trận. Đó là hiện thực đầy lãng mạn trong bối cảnh cuộc sống gian khổ và hiểm nguy. Cũng chính trên những cung đường máu lửa này, đã có bao đôi lứa nên duyên vợ chồng. Những đám cưới đơn sơ, mộc mạc đựơc tổ chức giữa những cánh rừng già, hay giữa cung đường còn dang dở. Nhưng chính nơi này, với tình yêu đôi lứa, với cuộc sống gia đình hạnh phúc đã thực sự gắn kết họ với công trường, góp phần xây dựng đơn vị không ngừng phát triển. Nhiều người sau này trở thành cán bộ lãnh đạo cấp Công ty, Tổng Công ty, và các Cục, Vụ, Viện...
***
Do yêu cầu nhiệm vụ mới, cuối năm 1971, một bộ phận được tách từ đội cơ giới 7-Công trường 71A sáp nhập với đội Cơ giới 9 từ Hải Dương chuyển vào, biên chế lại và trở thành đơn vị chủ công khai thông đường 71 trên đoạn đèo Mục Bài, động Nhà Hè. Đồng chí Quang Thanh, một cán bộ trẻ năng động nhiều năm liền lăn lộn, gắn bó với ngành giao thông vận tải được cử làm đội trưởng. Các đồng chí Hå §øc Dụ, Trần Văn Nhẫn, nguyên là thợ lái máy bậc cao là những người lao động mẫn cán, nhiều kinh nghiệm được cử tham gia Ban chỉ huy đội. Năm 1973 khi đồng chí Quang Thanh đi học, đồng chí Dụ được giao quyền đội trưởng, đồng chí Nhẫn đội phó.
Từ cuối năm 1972, giặc Mỹ đánh phá miền Bắc với qui mô ngày càng ác liệt, đặc biệt với Hà Tĩnh, Quảng Bình. Chúng tập trung mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất nhằm triệt phá con đường chiến lược này, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn mìên Nam. Tại đội Cơ giới 9 ở đèo Mục Bài xã Hương Vĩnh, Ban Chỉ huy Công trường quyết định thành lập các tổ, đội tự vệ trang bị súng cao xạ tầm thấp, hiệp lực cùng lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương góp phần bảo vệ vững chắc trận địa pháo và vùng trời Tổ quốc.
Cùng thời gian này, đội Cơ giới 9 được lệnh đi đảm bảo giao thông đường 15C đoạn Địa Lợi - Khe Tang (Quảng Bình). Mặc dù phần lớn xe máy của đơn vị đã quá cũ kỹ, xuống cấp, phụ tùng thiếu đủ thứ : gioăng, ti-ô, táp moi, táp cắt nhưng với tinh thần “Dũng cảm, kiên cường, thông minh, sáng tạo”, “Tất cả vì tiền tuyến”, anh em quyết tâm khắc phục để kịp lên đường làm nhiệm vụ. Trên đường vào, có khi phải dừng lại, dọn đường, san lấp hố bom, kéo xe tải sa lầy, lấy máy làm hầm, vừa kéo vừa hành quân, cứ thế cho đến điểm hẹn tập kết cuối cùng.
Trước ngày ký Hiệp định Pa-ri, địch dùng B 52 rải thảm nhiều vùng rộng lớn, hòng cắt đứt mọi ngã đường tiếp tế. Nhưng đường 71 đã được thông xe, góp phần cùng tuyến đường goòng Vinh-Minh Cầm chớp thời cơ chuyển hàng ngàn tấn binh khí, kỹ thuật ra mặt trận. Thời gian này, ngoài trọng điểm ngã ba Đồng Lộc, địch chuyển hướng tập trung đánh vào ngã ba Tân Đức vì chúng biết rằng dù cắt đứt được ngã ba Đồng Lộc thì hàng vẫn vào chiến trường bằng tuyến đường 21. Ngã ba Tân Đức trở thành điểm nóng quyết chiến chiến lược của cả đôi bên.
Theo chỉ đạo của Cục Công trình, Công trường 71c tạm ngừng thi công đoạn cuối tuyến 71 để chuyển sang đảm bảo giao thông ngã ba Tân Đức, đường 21 với trọng điểm ác liệt là ngầm Rào Bội. Với ý chí “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm”, tập thể cán bộ, công nhân tổ gạt I - Đội Cơ giới 9 đã đảm bảo giao thông thông suốt, liên tục. Tại ngầm La Khê, Tân Đức chỉ trong một đêm với 4 chiếc máy ủi cũ kĩ, anh em công nhân đã thay nhau kéo gần 300 xe chở hàng hoá, vũ khí, lương thực, thực phẩm kịp thời, an toàn ra mặt trận.
Rạng sáng 01 tháng 11 năm 1972- một ngày thật đau thương và đáng nhớ! Tinh mơ, nhiều tốp máy bay B52, F105 E đồng loạt ném bom dọc tuyến đường 21 từ ngã ba Thình Thình (Thạch Hà, Hà Tĩnh) vượt ngầm Rào Bội ngược lên Tân Đức (Tuyên Hoá, Quảng Bình). Ngầm Rào Bội và khu vực lân cận thuộc địa bàn Công trường 71C bị rung chuyển, cây cối đổ ngổn ngang, đá lở, đất sụt đầy đường, khói bụi mịt mù, cả đoàn xe quân sự chở bộ đội, lương thực, vũ khí, đạn dược... bị thiêu rụi, 21 chiến sĩ hy sinh, số bị thương nằm la liệt trên tuyến, trên xe, dọc suối. Hàng loạt xe vận tải chở hàng hoá, vũ khí, ngổn ngang nối đuôi nhau dễ đến ba, bốn cây số. Ta dồn lực lượng làm thủ tục khâm liệm, chôn cất những chiến sĩ hy sinh, cứu chữa người bị thương, khẩn trương chuyển lên tuyến trên những ca nặng. Bộ phận khác san lấp hố bom, vét bùn đất sạt lở, chặt rải cây chống lầy dưới tầm bom địch để kịp thông xe, giải phóng đường trước khi trời tối. Các cán bộ kỹ thuật, nhân viên y tê cứu thương, công nhân làm đường , người phục vụ... tất cả đều phải thức trắng đêm.
Có thể nói, trong những năm tháng ác liệt đó, những địa danh lịch sử như ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Thình Thình, đường Khe Giao, ngầm La Khê, Tân Đức, Rào Bội, Địa Lợi, Khe Tang..., đã gắn liền tên tuổi và quá trình hình thành phát triển của Công trường 71C. Chính trên trận tuyến đảm bảo giao thông ấy, tổ gạt I, Đội Cơ giới 9 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, và sau đó, năm 1973, tập thể đội Cơ giới 9 tiếp tục vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, đồng chí Nguyễn Văn Tiêu, công nhân tổ máy gạt I đội Cơ giới 9 Huân chương Chiến công hạng Ba, cùng gần 300 cán bộ công nhân viên Công trường được tặng thưởng Huân, Huy chương Kháng chiến, Bằng Ghi Công... Hai mươi bảy cán bộ công nhân viên Công trường vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa, hàng trăm người suốt đời mang trên mình thương tích chiến tranh. Họ đã chiến đấu, hy sinh, góp phần lập nên những chiến tích thần kỳ, giữ vững mạch máu giao thông cho sự phát triển thắng lợi của cách mạng miền Nam.
2. Củng cố tổ chức, khôi phục giao thông
Ngày 16-01-1973, tức mười ngày trước khi Hiệp định Pa-ri về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết, Chính phủ Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện toàn bộ miền Bắc nước ta. Nhiệm vụ trước mắt và cấp bách của Công trường lúc này là từng bước sắp xếp ổn định tổ chức, nhanh chóng khôi phục cơ sở hạ tầng giao thông trong tình hình mới. Thời gian này, lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến phục vụ tại Công trường đã hoàn thành nghĩa vụ và được trở về địa phương. Một số tình nguyện ở lại đã được tổ chức sắp xếp công việc phù hợp với năng lực, trình độ.
Tháng 6 năm 1973, cơ quan Công trường chuyển về làng Mai Hồ, xã Đức Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Nơi ở, nơi làm việc của Công ty đều phải mượn nhà dân, điều kiện sinh hoạt, làm việc thiếu thốn, các bộ phận cách xa nhau nên điều hành khó khăn. Vì vậy, lãnh đạo Công trường chủ trương chỉ bố trí ở đây một bộ phận cán bộ chuyên môn thật cần thiết như kỹ thuật, kế hoạch tác nghiệp, cung ứng vật tư... trực tiếp chỉ đạo thi công nền ga Chợ Thượng, cầu Thọ Tường, và một số công trình lân cận khác. Khoảng 2/3 quân số cơ quan Công trường chuyển về Vinh Hưng, (nay là phường Đội Cung) thành phố Vinh và tập trung mọi nguồn lực xây dựng trụ sở chính ở đó.
Đây là địa bàn thuận lợi, cách ga Vinh chưa đầy hai cây số. Đích thân đồng chí Nguyễn Sĩ Hoà, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã cùng lãnh đạo Công ty trực tiếp thị sát và đồng ý cho Công trường đặt trụ sở cơ quan, nơi ở của cán bộ công nhân viên, xưởng cơ khí, sửa chữa xe máy tại đây. Ban đầu các dãy nhà ở, làm việc đều bằng tranh, tre, nứa, mét nhưng được bố trí khá hợp lý, liên hoàn, ngăn nắp theo kiểu bàn cờ. Phía trong cùng trước cổng văn phòng Công đoàn, Đoàn Thanh niên là sân bóng chuyền. Tiếp đến là hồ cá rộng, bốn mùa thoáng mát. Từ đầu năm 1974, bộ phận cơ quan ở Mai Hồ- Đức Yên, Đức Thọ ( Hà Tĩnh) sau khi hoàn thành nhiệm vụ tuyến trong đã chuyển hết về xã Vinh Hưng, thành phố Vinh. Đối diện bên kia đường là trụ sở đội đường dây Thông tin thuộc Cục Công trình.
Buổi đầu về nơi ở, nơi làm việc mới, mọi điều kiện sinh hoạt tuy còn khó khăn thiếu thốn, song đời sống tinh thần, vật chất từng bước được cải thiện, cán bộ công nhân viên thực sự gắn bó, yêu ngành, yêu nghề, yên tâm công tác. Từ đây, Công trường có điều kiện tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm. Phong trào thi đua lao động sản xuất được đẩy mạnh, nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật của cán bộ, công nhân được phát huy hiệu quả, khơi dậy được lòng say mê nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật.
Để tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân yên tâm lao động sản xuất, đầu năm 1976, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Giám đốc Xí nghiệp Liên hợp Công trình I trực tiếp xuống kiểm tra và đồng ý cho Công trường xây nhà cấp 4. Ngay sau đó, bản vẽ thiết kế chi tiết mặt bằng tổng thể khu nhà ở đã được Tổng giám đốc chấp thuận. Nhưng khó khăn mới lại nảy sinh : đó là vật liệu, tiền làm nhà chưa có. Công ty đã làm việc với xưởng gạch 12/9 Hưng Nguyên, một phương án tích cực, hiệu quả được đưa ra, đó là xưởng gạch đồng ý thuê máy ủi của Công ty lấy đất đóng gạch và trả tiền công bằng gạch. Thế là Công ty đã có đủ gạch làm trụ sở cơ quan và xưởng cơ khí.
Tháng 5 năm 1973, Bệnh viện Công trường 71C chuyển xuống Dốc Củi, xã Xuân Hồng, Nghi Xuân, Hà Tĩnh sáp nhập vào bệnh viện Giao thông G5 thuộc Bộ Giao thông Vận tải) ở xã Nghi Đức, Nghi Lộc, Nghệ An. Để tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ CBCNV, Công trường thành lập tổ y tế trực thuộc Phòng Hành chính Quản trị. Mỗi đội sản xuất đều có một y tá chuyên trách theo dõi, chăm lo sức khoẻ cho anh em công nhân.
Chỉ chưa đầy một tháng sau ngày hoà bình, vừa ổn định nơi làm việc, Ban lãnh đạo Công trường đã khẩn trương bắt tay ngay vào công việc.Có thể nói, trong điều kiện vừa hành quân, vừa xếp hàng, song, Công trường đã đảm nhận thi công nhiều công trình lớn. Trước hết là triển khai nhiệm vụ khảo sát thi công kè đê chỉnh trị ga Yên Xuân thuộc đường sắt Thống Nhất, tham gia khôi phục đường goòng Vinh-Minh Cầm, đường hai đầu Cầu Cấm (Nghi Lộc), nền ga Chợ Thượng (Đức Thọ), cảng Nhật Lệ (Quảng Bình), đường hai hai đầu cầu Đò Đao (Diễn Châu)..., đồng thời từng bước chuẩn bị mọi điều kiện tham gia thi công khôi phục đường sắt Thống Nhất. Bên cạnh đó, Công trường tiếp nhận lại đội sản xuất đá ở Trường Lâm (Thanh Hoá) trên cơ sở điều chuyển, sáp nhập một bộ phận lao động từ mỏ đá Tân Đức (Quảng Bình), bước đầu giải quyết công ăn, việc làm cho nhiều hộ gia đình cán bộ công nhân viên và lực lượng lao động dôi dư, vừa chủ động nguồn vật liệu cho các công trình trên địa bàn.
Cũng như bao đơn vị khác của Cục Công trình, sau giải phóng, Công trường 71C đứng trước nhiều khó khăn do đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, công nhân lành nghề ít, đại bộ phận là lao động phổ thông, thiếu thiết bị, và vốn. Chủ trương của Đảng uỷ và lãnh đạo Công trường là tăng cường thực lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tổ chức lại dây chuyền sản xuất được ưu tiên hàng đầu. Bộ máy cồng kềnh thời bao cấp không phù hợp, được tinh giảm sắp xếp lại. Từ 8 phòng ban nghiệp vụ tinh giảm xuống còn 7 phòng. Lực lượng cán bộ, nhất là cán bộ kỹ thuật, kế hoạch tác nghiệp, cơ khí được bố trí lại phù hợp với sở trường, năng lực. Lãnh đạo đơn vị mạnh dạn đề bạt, giao nhiệm vụ cho lớp trẻ có năng lực trực tiếp điều hành sản xuất, kinh doanh như đội trưởng, trưởng, phó các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ.
***
Trong giai đoạn này, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, Bộ Giao thông Vận tải đồng ý để Cục Công trình sáp nhập, thay đổi phiên hiệu một số cơ quan, đơn vị, công trường trực thuộc. Theo đó, Công trường 71C được đổi tên thành : Công ty Đường 771.
Sau khi sáp nhập, kiện toàn, Công ty có sự thay đổi về công tác nhân sự, một số cán bộ lãnh đạo chính quyền, đoàn thể, các trưởng phó phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ. Một bộ phận cán bộ được điều chuyển sang công tác khác. Đồng chí Nguyễn Văn Khoa, Bí thư Đảng uỷ thay đồng chí Lê Văn Phú về cơ quan Cục nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Lê Văn Viết, Phó chỉ huy Công trường được đề bạt làm Chủ nhiệm Công ty thay đồng chí Trần Kinh làm Trưởng phòng Lao động-Tiền lương - Cục Công trình. Điều động đồng chí Bùi Diệm, Phó chỉ huy Công trường đi làm Cố vấn Công binh cho Quân khu 4, đồng chí Lê Văn Thiệu, Phó chỉ huy Công trường nhận công tác khác, giải thể phòng Bảo vệ vũ trang. Đồng chí Lê Văn Phảng từ Công trường 71B được điều động về làm Phó Chủ nhiệm Công ty, phụ trách kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Đình Tuyển chuyển lên cơ quan Cục làm Phó trưởng phòng Tổ chức cán bộ, đồng chí Nguyễn Văn Định, Phó trưởng phòng Tổ chức cán bộ Cục Công trình làm phó Chủ nhiệm Công ty phụ trách nội chính và là thủ trưởng cơ quan.
Thời gian này, Công ty đang triển khai thi công nền đường hai đầu cầu Cấm (đường sắt, đường bộ đi chung) và thiết kế, cải tạo, nạo vét 600 m Kênh nhà Lê ở phía bắc. Để thực hiện nhiệm vụ này, phía Nam công ty bố trí đội Cơ giới 9, xưởng sửa chữa ô tô, xe máy, phía Bắc là đội 1 lao động phổ thông. Đội đường sắt 206 thi công kiến trúc tầng trên và đảm bảo an toàn chạy tàu trên tuyến tránh, và hoàn thiện chính tuyến sau này. Tất cả máy móc, thiết bị tốt nhất của Công ty đều được huy động cho công trình. Tháng 4 năm 1974, dự án cầu đường sắt Đò Đao chính thức được khởi công, Cục Công trình lại giao nhiệm vụ tiếp cho Công ty thi công đường hai đầu cầu. Để có đá cung ứng cho công trình cầu Cấm, Đò Đao, lãnh đạo Công ty đã cùng Ban chỉ huy Đội đá Trường Lâm (Hoàng Mai) và một số cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm ngót một tuần trèo núi nghiên cứu địa hình, địa tầng, thế đá cụ thể rồi quyết định phương án nổ mìn lượng lớn, giúp công nhân có đủ việc làm. Cũng từ đây, dây chuyền sản xuất đá các loại được hình thành, cải tiến, hoàn thiện một cách bài bản, khoa học.
Tháng 6 năm 1974, đồng chí Lê Văn Viết được cấp trên giao nhiệm vụ mới, đồng chí Lê Văn Phảng được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Công ty. Đồng chí Trần Hữu Lam, Trưởng phòng Kế họạch được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Công ty. Cuối năm 1974, đồng chí Nguyễn Cảnh Chương được điều động làm Phó Chủ nhiệm phụ trách kỹ thuật.
Đường hai đầu cầu Cấm là công trình gồm nhiều hạng mục với khối lượng lớn, địa hình, địa chất thuỷ văn phức tạp. Việc rà phá bom mìn, giải phóng mặt bằng do lực lượng công binh Quân khu 4 đảm nhiệm gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, phải đắp bệ phản áp xử lý nền đất yếu trong điều kiện thuỷ triều lên xuống thất thường. Phòng Kỹ thuật đã cắt cử cán bộ túc trực đo, vẽ theo dõi biến động của thuỷ triều để phục vụ lập phương án tổ chức thi công một cách chính xác. Năm 1973 cũng là năm có nhiều cơn bão mạnh đổ bộ vào bắc miền Trung, đặc biệt là Nghệ An. Tại thời điểm ấy, đất đắp chủ yếu vận chuyển bằng xe ben cỡ nhỏ thông qua hầm rót. Do mưa bão, đất sụt lở, hầm sập, vật liệu thiếu, hàng tháng trời vẫn chưa khắc phục được, Ban chỉ huy Công trường dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Văn Phảng đã họp bàn và quyết định dùng máy ủi vừa đào vừa đẩy đất từ núi ra đắp với cự ly 500 ~ 600 m, tranh thủ thời tiết, tận dụng thời gian để nâng cao độ nền vượt mực nước lũ. Đây là một quyết định khó khăn, có nhiều ý kiến phản đối do không “hợp” với qui trình nên chỉ là biện pháp tình thế được áp dụng trong thời gian ngắn nhằm giải quyết tiến độ giữa mùa mưa bão lúc bấy giờ.
Nhớ về quãng thời gian khó khăn ấy, anh Bùi Minh Quỳnh, cán bộ kỹ thuật thi công công trình lúc bấy giờ đã kịp ghi lại thời khắc gian nan đáng nhớ ấy bằng mấy vần thơ :
Nhớ sao mùa lũ bảy ba (1973)
Hỏng hầm, máy tải đất xa mấy lần
Khó khăn chồng chất khó khăn
Giao ban xử lý họp bàn v­ượt qua.
Công trình cầu Cấm của ta
Ngày đêm xe, máy vào ra rộn ràng
Công nhân, bộ đội, cơ quan...
Đời vui tiếng hát ca vang công trư­ờng

Cũng từ những khó khăn trong thi công công trình này, những người thợ cầu, thợ đường, cán bộ kỹ thuật, công nhân đo đạc, khảo sát..., trực tiếp tham gia xây dựng đã có sự trưởng thành vượt bậc. Nhiều tập thể, cá nhân được cấp trên khen thưởng. Một số là nhân viên được lãnh đạo tin tưởng đề bạt làm đội trưởng, đội phó, trưởng, phó phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ và phát huy hiệu qủa tốt như các đồng chí Nguyễn Văn Hướng, Ban chỉ huy đội Cơ giới 9 (sau này là Chánh Thanh tra Bộ Giao thông Vận tải), Nguyễn Thế Chấn, Lương Thị Thể (phòng Tài vụ), Nguyễn Văn Tám (phó phòng Hành chính Quản trị), §inh TiÕn Hảo, y sĩ phụ trách phòng Y tế, Tạ Thanh Tùng- Phó phòng Lao động tiền lương...
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Nước nhà thống nhất, non sông thu về một dải. Sau những ngày hân hoan niềm vui chiến thắng, dân tộc Việt Nam lại bước vào một cuộc trường chinh mới không kém phần khó khăn, gian khổ. Đó là xây dựng lại đất nước ta “Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, ngành giao thông vận tải tiến hành chẩn chỉnh, sắp xếp lại bộ máy hoạt động có đủ năng lực, để có thể đảm đương được những công trình lớn. Và, ngày 22 tháng 1 năm 1975, tại Quyết định số 163/QĐ-TCCB Bộ GTVT, Cục Công trình được chuyển đổi thành Xí nghiệp Liên hợp Công trình I.
Trước nhiệm vụ mới, lãnh đạo Công ty chủ trương củng cố, soát xét lực lượng hiện có, bố trí cán bộ theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực, sở trường. Nhờ thế, bước đầu Công ty phát huy hiệu quả năng lực của cán bộ công nhân viên. Cùng với đó, quyết định chọn một số công nhân có trình độ, năng lực khá gửi đi học tại các trường nghiệp vụ, dạy nghề.
Từ tháng 9 năm 1975, Công ty tuyển thêm nhân công là lao động phổ thông từ các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Yên Thành...trong số đó, phần lớn vừa rời ghế nhà trường phổ thông. Số lao động mới tuyển được biên chế thành hai đội nhân lực, lấy phiên hiệu 705, 706, và được giao ngay nhiệm vụ thi công các nền ga đường sắt đoạn từ Vinh-Đức Thọ.


PHẦN II
THỜI KỲ TỪ 1976 – 1985
KHÔI PHỤC, HÀN GẮN VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH


Sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề, trong đó, hạ tầng giao thông vận tải trên địa bàn các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Trên mọi nẻo đường miền Trung, hệ thống cầu đường bị tàn phá nghiêm trọng, các cảng biển, sông ngòi chỗ nào cũng đầy bom mìn chưa được tháo gỡ, là những thách thức không nhỏ đối với ngành giao thông vận tải.
Từ sau ngày hoà bình lập lại, hòa nhịp với sự chuyển mình của đất nước, của ngành giao thông vận tải, Công trường 71C đã nhiều lần sáp nhập, chuyển đổi tên gọi : từ Công ty đường 771, Xí nghiệp đường bộ 471, Công ty đường bộ 471, đến thời kỳ chuyển đổi cổ phần hoá doanh nghiệp trở thành Công ty Cổ phần 471 hôm nay, cán bộ công nhân viên Công ty đã vượt lên bao gian nan, thử thách, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Có thể nói, ở giai đoạn này, đơn vị gặp nhiều khó khăn về vốn, thiết bị, song, đơn vị đã huy động tối đa nội lực, tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ đầu tư của các bộ, ngành cấp trên, đã xây dựng, hoàn thành có chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật các công trình lớn của Tổ quốc. Điển hình là khôi phục xây dựng đường sắt Thống Nhất, sân bay Sao Vàng, đường sắt vào nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hoá), đường vào nhà máy xi măng Hoàng Mai, cảng Cửa Lò, đường hai đầu cầu Bến Thuỷ (Nghệ An), cầu sông Gianh, cầu Quán Hàu (Quảng Bình), dự án quốc lộ 1A đoạn Vinh - Cầu Họ, quốc lộ 8A, quốc lộ 46 (đoạn Vinh – Nam Đàn), đường đi quê nội, quê ngoại Bác Hồ, dự án đường Hồ Chí Minh, đường nối QL 1A với đường Trần Phú (TP Nha Trang), quốc lộ II (Phú Thọ), quốc lộ III (Thái Nguyên - Bắc Kạn), cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh) ...
Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, nhờ bước đi đúng hướng và cách làm có hiệu quả, Công ty đã có những bước phát triển vượt bậc. Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm, Công ty đều được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ thực hiện, hoặc trúng thầu thi công đạt tiến độ, chất lượng kỹ thuật, mĩ thuật, thực sự góp phần làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng giao thông vận tải trên nhiều nẻo đường đất nước. Bàn tay, khối óc những kỹ sư, những người thợ cầu, đường của Công ty đã làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp xây dựng cầu đường theo công nghệ tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH quê hương, đất nước. Trong đó, có dấu ấn đường Hồ Chí Minh, con đường mòn huyền thoại năm xưa gắn bó với Công trường những ngày đầu gian khổ, giờ đây là đại lộ Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn công nghiệp hoá, là điểm đến của hàng triệu người Việt Nam trong những dịp hành hương về cội nguồn, để hồi tưởng và tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp giao thông vận tải, vì độc lập dân tộc.
Đầu năm 1976, thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc khôi phục chạy tàu tuyến đường sắt Bắc Nam, Xí nghiệp Liên hợp Công trình I giao nhiệm vụ cho Công ty thi công đoạn từ ga Phúc Trạch đi ga Kim Lũ, trong đó khó khăn nhất là “cua bóng đèn” Khe Nét, với vách núi dựng đứng, hiểm trở, có chiều dài gần 1 km, độ dốc lớn (ip = 11~12 %), khi hạ đèo gặp nước ngầm lớn làm yếu nền đường, phải luôn luôn đảm bảo giao thông để đưa vật tư vào tuyến trong. Hơn nữa, tại đây vẫn còn sót lại nhiều bom đạn chưa nổ nên nhiều người đã hi sinh hoặc bị thương khi đang làm nhiệm vụ thi công. Cái khó nữa là, lương thực thực phẩm thiếu thốn, việc tiếp tế lại rất khó khăn, phải trung chuyển nhiều lần, chủ yếu vận chuyển bộ. Tại đây, Công ty đã dồn sức huy động tới 4 đơn vị nhân lực, đội Cơ giới 9, đội Đường sắt 206 từ nhiều nơi vào thi công phục vụ chiến dịch thông tuyến đường sắt Bắc- Nam năm 1976. Có thể nói, công trình này là thử thách lớn. Các yêu cầu về kỹ thuật và tiến độ công trình vượt xa khả năng của Công ty ngày ấy, vì đoạn đường sắt này bị địch đánh đi đánh lại nhiều lần, toàn bộ nền đường, kiến trúc tầng trên đều hư hỏng nặng, cầu cống vòm được xây dựng từ thời thuộc Pháp bị phá sập, nứt nẻ, biến dạng hoàn toàn, rất khó sửa chữa. Nhiệm vụ cấp bách đối với công trình này là phải nhanh chóng khôi phục lại, trong đó có cả nhiệm vụ thiết kế cải tuyến. Với khối lượng công việc quá lớn, lại thiếu cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ, thợ bậc cao, máy móc, thiết bị không đồng bộ, lực lượng chủ yếu ban đầu vốn chỉ quen đảm bảo giao thông, san lấp hố bom...nên khi có yêu cầu kỹ thuật cao, tiến độ khẩn trương, thì đơn vị gặp không ít khó khăn, nhất là xây dựng cống lớn, kiến trúc tầng trên, lắp đặt các bộ ghi trong ga...
Để hoàn thành khối lượng công việc trên, tại đây, đơn vị bố trí 4 đội thi công. Đội 706 đảm nhận từ ga Phúc Trạch đến vượt đèo Khe Nét 500 mét, đội 1 ga Kim Lũ và khu gián tiếp giáp hai đầu. Đội xung kích do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Công ty (đồng chí Văn Đình Hường, cán bộ kỹ thuật trực tiếp chỉ huy) đảm nhận xây kè, tường chắn qua đèo Khe Nét. Đội 2 thi công cống mới, khôi phục, sửa chữa cống cũ trên toàn tuyến. Đội Cơ giới 9 đào đắp nền đường các đoạn có khối lượng lớn và túc trực hót đất sụt tại cua bóng đèn Khe Nét. Đội Đường sắt 206 đảm nhận thi công kiến trúc tầng trên. Một số thợ có tay nghề khá cấp tốc hướng dẫn thợ cơ khí, lao động phổ thông về lý thuyết và thực hành kỹ thuật thi công đường sắt. Nhờ vậy, chỉ sau thời gian ngắn, lực lượng này đã khá thành thạo công việc. Được bổ sung lực lượng mới, Đội đặt đường 206 lập tức được chia ra 2 mũi, mũi có đông thợ cơ giới đảm nhận khu gian tà vẹt sắt cùng một số ít thợ chuyên nghiệp làm nòng cốt. Mũi thứ hai thi công khu gian tà vẹt gỗ, các bộ ghi, các cung đường cong, những đoạn đường đèo, dốc...
Ban Chỉ đạo Công ty đặt tại Tân Ấp. Hầu hết các cán bộ chủ chốt của Công ty từ giám đốc, đến các bộ phận chuyên môn, đoàn thể đều có mặt tại nơi khó khăn nhất để trực tiếp chỉ đạo, điều hành sản xuất. Các cuộc giao ban sản xuất được tổ chức bất cứ lúc nào khi cần giải quyết công việc bức bách. Ngay từ những ngày đầu, khí thế lao động đã hết sức khẩn trương. Các mũi, tổ, bộ phận, giành dật thời gian không quản ngày đêm, mưa, nắng kết hợp với thưởng vật chất làm việc liên tục 3 ca, đã tạo khí thế thi đua lao động sôi nổi trên công trường. Các đầu xe, máy cùng phối hợp nhịp nhàng cung cấp kịp thời hàng ngàn tấn vật liệu cho công trường. Kết quả, thanh ray cuối cùng đường sắt Thống Nhất đã được những người thợ đường đội 206 khớp nối trước một ngày khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.
Thực hiện dự án này, mặc dù ở giữa vùng rừng núi hiểm trở, nhưng nhà cửa, lán trại, nơi ăn, chốn ở của anh em công nhân được bố trí khá ngăn nắp, gọn gàng. Bộ phận hậu cần, nhà bếp luôn luôn tìm cách cải thiện món ăn hàng ngày đảm bảo cơm ngon, canh ngọt. Bộ phận y tế cơ quan cắt cử hai y sĩ thường xuyên có mặt tại hiện trường chăm lo sức khoẻ và kịp thời giải quyết những ca cấp cứu. Nhiều công nhân kỹ thuật, thợ bậc cao vừa chịu trách nhiệm chính trong công việc, vừa dẫn dắt lớp trẻ vào nghề. Các đồng chí trong ban chỉ huy đơn vị, cán bộ kỹ thuật, ngày đêm bám sát hiện trường, kịp thời giải quyết các ách tắc kỹ thuật, những phát sinh trong quá trình tổ chức thi công. Với sự nỗ lực của tập thể lao động toàn Công ty, sự chỉ đạo sâu sát của Bộ Giao thông Vận tải, của Xí nghiệp Liên hợp Công trình I, sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền và nhân dân địa phương, sau hơn ba trăm ngày đêm lao động quên mình, Công ty đã hoàn thành toàn bộ khối lượng công việc được giao đảm bảo chất lượng và tiến độ, góp phần cùng quân và dân cả nước khôi phục tuyến đường sắt Bắc Nam dài 1729 km.
Ngày 31 tháng 12 năm 1976, cả nước hân hoan đón chào sự kiện trọng đại : Thông xe kỹ thuật tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc-Nam và chào mừng thành công Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, để ngày 10 tháng 4 năm 1977, Bộ Giao thông Vận tải chính thức phát lệnh thông xe đường sắt Thống Nhất Bắc-Nam. Hàng trăm ngàn cán bộ, nhân viên, công nhân viên đường sắt ở tất cả 96 nhà ga và nhân dân địa phương trên toàn tuyến đã đổ ra đường dưới rừng cờ, hoa, biểu ngữ...nồng nhiệt chào đón chuyến tàu xuyên Việt đầu tiên sau gần 33 năm gián đoạn trong niềm vui khôn xiết. Trong thành quả to lớn đó, những người thợ cầu đường của Công ty Đường 771 vinh dự đóng góp một phần sức lực và trí tuệ.
Kết thúc dự án đường sắt Thống Nhất cũng là lúc Công ty gặp nhiều khó khăn về vốn, không có vốn đầu tư của nhà nước, Công ty phải tự huy động vốn để trang trải cho các công trình nhỏ như làm đập thuỷ lợi, hoặc tìm kiếm việc làm khác. Tháng 6 năm 1977, đội 206 chuyển về thi công đường sắt vào bãi than Đông Vĩnh, kho ngoại thương Vinh (Tp Vinh). Các đội 706, 705, đội 2, đội Cơ giới 9 thi công quốc lộ 1A đoạn từ Cầu Giằng đi thị xã Hồng Lĩnh. Đội sản xuất đá Trường Lâm (Thanh Hoá) được tổ chức phân công lại, cùng với việc sửa chữa, mua thêm các loại thiết bị như máy khoan, máy hơi ép..., đã góp phần tăng năng lực sản xuất, tăng sản phẩm, nâng cao đời sống công nhân. Để người lao động yên tâm công tác, Công ty cho xây dựng nhà gửi trẻ và nhà ăn tập thể, đời sống vật chất, tinh thần của các hộ gia đình cán bộ công nhân viên nhờ thế được cải thiện đáng kể.
Tháng 4 năm 1978, đồng chí Lê Văn Phảng được điều động về phòng kế hoạch Xí nghiệp Liên hợp Công trình I và ngay sau đó, tháng 5 năm 1978 được Bộ Giao thông vận tải bổ nhiệm làm Phó Tổng giám đốc. Đồng chí Trần Hữu Lam, phó Chủ nhiệm giữ chức Q. Chủ nhiệm Công ty.
Tháng 10 năm 1978, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, Bộ Giao thông vận tải quyết định sáp nhập đoàn Cơ giới 813 (vừa hoàn thành nhiệm vụ ở nước bạn Lào và từ miền Nam ra) với Công ty Đường 771 thành Công ty Đường 771. Đồng chí Nguyễn Cảnh Chương- Đoàn trưởng Đoàn cơ giới 813 được cử giữ chức Chủ nhiệm Công ty. Các phó Chủ nhiệm gồm : Trần Hữu Lam, Lữ Trọng Tân, Trần Quốc Dần. Đồng chí Nguyễn Xuân Dương được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Bùi Xuân Cự, thư ký Công đoàn Công ty. Toàn bộ cơ quan chuyển về địa điểm mới ở xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, dưới chân núi Hồng Lĩnh. Phía sau núi, cách 1,5 cây số là trường Nghiệp vụ đào tạo nghề của Xí nghiệp Liên hợp Công trình I. Trụ sở cũ của Công ty tại xã Vinh Hưng, thành phố Vinh tạm giao đội sửa chữa xe máy, thiết bị tiếp quản.
Ngay sau khi sáp nhập, Công ty nhanh chóng ổn định tổ chức, đồng thời tăng cường đầu tư nguồn vốn, thiết bị và nhân lực để đảm nhận thi công các công trình quan trọng khác. Công ty tiếp tục thi công các công trình còn dở dang như mở rộng quốc lộ 1A đoạn thị trấn Kỳ Anh, đoạn Cầu Giằng đi thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), đường sắt vào cảng Bến Thuỷ và đường kho bãi trong cảng (Nghệ An), sân bay quân sự Sao Vàng (Thanh Hoá), bàn giao mỏ đá Tân Đức cho Công ty 869 và toàn bộ Đội đá Trường Lâm cho Công ty vật liệu xây dựng vừa thành lập.
Về y tế, thời điểm này Công ty có trạm xá 813, làm nhiệm vụ điều trị, chăm sóc sức khỏe cán bộ công nhân viên. Về phương tiện, thiết bị, có 3 đội cơ giới, 1 đội Xe máy Thiết bị với nhiều máy móc, đầu xe. Mặc dù việc hợp nhất hai đơn vị làm đường nhằm bổ sung thêm lực lượng và cơ sở vật chất, nhưng khó khăn vẫn còn nhiều mà Công ty không thể khắc phục trong ngày một, ngày hai. Hầu hết các thiết bị, xe máy được trang bị từ những năm 1973 đã hết khấu hao, hư hỏng nặng, không đủ kinh phí sửa chữa. Trong điều kiện đó, cán bộ điều độ đã phải huy động tối đa một số thiết bị tốt làm việc tăng ca, tăng kíp. Văn phòng cơ quan tổ chức nhiều ngày lao động công ích hỗ trợ các đội để đảm bảo công trình hoàn thành đúng tiến độ.
Đây là thời kỳ khó khăn chung của cả nước, ngành giao thông vận tải cũng không nằm ngoài khó khăn đó, cơ sở hạ tầng phải chịu tổn thất nặng nề do chiến tranh để lại, trong khi đó, cơ chế bao cấp, nhà nước không có vốn đầu tư cho các công trình. Do nguồn vốn hạn hẹp, kế hoạch hàng năm giao cho Công ty giảm nhiều. Thêm nữa, vật tư, tiền vốn không được cung cấp kịp thời, thiếu đồng bộ. Tình trạng chờ việc đầu năm, chạy đua nước rút cuối năm để hoàn thành kế hoạch vốn là căn bệnh trầm kha chung của nhiều đơn vị nhiều năm liền không khắc phục được. Đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn do chế độ tem phiếu về lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu không đáp ứng được. Trong bối cảnh đó, Công ty chủ động thực hiện chính sách tự trang trải như: vận động CBCNV lập trại chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, tăng gia rau màu ở Hồng Lĩnh, Kỳ Anh, Hoàng Mai... Trong đó, trang trại chăn nuôi do các đồng chí Trương Phú Thụ, Trần Danh Phú, Chu Văn Bàn, Nguyễn Văn Xuân... phụ trách, được qui hoạch trên những khu đất rộng, bằng phẳng, đã tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên. Nhờ đó, Công ty đã tự túc được một phần lương thực, thực phẩm, đời sống CBCNV từng bước được cải thiện. Ngoài ra Công ty còn hợp đồng xây dựng các đập thuỷ lợi nhỏ ở Vực Mấu, hồ Kẻ Gỗ, san đất mặt bằng, đào âu thuyền..., tạo việc làm, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
Còn nhớ, năm 1978, một lực lượng lớn cơ giới hùng hậu của Công ty đã cấp tốc hành quân lên Đô Lương san ủi mặt bằng xử lý, khắc phục hậu quả vụ sập cống Hiệp Hoà và được UBND tỉnh Nghệ An tặng Bằng khen.
Tháng 4 năm 1979, đồng chí Dương Danh Dũng được đề bạt làm phó Chủ nhiệm kỹ thuật. Tháng 7 năm 1979, đồng chí Nguyễn Đình Thọ, Đội trưởng Cơ giới 3 từ Kỳ Anh được điều động làm phó Chủ nhiệm Công ty – nhưng vẫn kiêm nhiệm và trực tiếp điều hành đội.
Như vậy, đến thời điểm này, Công ty đã có 3 đội cơ giới mạnh. Đội Cơ giới 9 đóng tại Dốc Củi xã Xuân Hồng, Nghi Xuân do đồng chí Trần Văn Nhẫn làm đội trưởng. Những năm 1980-1984, đội Cơ giới 1 do đội trưởng Hà Ngọc Vĩnh chỉ huy, và là đơn vị chính thi công 25.000 mét khối bê tông đường bãi sân bay Sao Vàng. Cũng nhờ công trình này, Công ty giải phóng được hơn 4 vạn mét khối đá tồn đọng từ nhiều năm ở Trường Lâm, góp phần tháo gỡ một phần khó khăn cho Công ty.
Đội Cơ giới 3 sau khi hoàn thành và bàn giao quốc lộ 1A đoạn Kỳ Anh (Hà Tĩnh), được điều về thi công đường Quán Bánh - Cửa Lò, đồng chí Phan Văn Viện làm đội trưởng. Đội 705, 706 sau khi hoàn thành nhiệm vụ khôi phục đường sắt Thống Nhất (đoạn La Khê-Kim Lũ) được Công ty phân tán lực lượng chia đều cho tất cả các đội để đảm bảo sự cân đối về năng lực, sức khoẻ và độ tuổi. Một số anh chị em có trình độ khá, có thành tích trong công tác được Công ty tạo đều kiện cho đi học tại các trường cao đẳng, trung cấp, dạy nghề, đồng thời tiếp nhận thêm một số kỹ sư đường bộ, cơ khí, thợ lái xe, lái máy bậc cao... Số cán bộ, công nhân này rất cố gắng, tận tụy, chịu khó học hỏi nên tiến bộ nhanh, nhiều người được lãnh đạo tin tưởng giao máy mới, xe mới, bước đầu phát huy tác dụng, thể hiện sự tự tin, độc lập trong công việc và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tháng 8 năm 1979, đồng chí Nguyễn Cảnh Chương nhậm chức Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Xí nghiệp Liên hợp Công trình I, đồng chí Trần Quốc Dần được cử làm Chủ nhiệm Công ty và tiếp tục thi công đường Quán Bánh-Cửa Lò, đường, bến bãi, kho, cảng Bến Thủy...
Những năm 1980-1981, Công ty tập trung mọi nỗ lực hoàn thành khối lượng lớn công việc ở sân bay Sao Vàng, bàn giao đưa vào sử dụng đường, bến, bãi, cảng Bến Thuỷ, đoạn đầu đường Quán Bánh-Cửa Lò từ Km 2 đến Km 4.
Tháng 01 năm 1981, đồng chí Trần Quốc Dần được điều động làm Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Xí nghiệp Liên hợp Công trình I, thay đồng chí Nguyễn Cảnh Chương vừa qua đời đột ngột tháng 12 năm 1980. Đồng chí Lữ Trọng Tân được giao quyền Chủ nhiệm Công ty, đồng chí Lê Đức Trung làm Phó giám đốc Xí nghiệp. Giám đốc Xí nghiệp Liên hợp Công trình I điều chuyển đồng chí Nguyễn Đình Thọ sang Đoàn Cơ giới 253 (tức Công ty Vật tư thiết bị 4 sau này). Tháng 6 năm 1982, Xí nghiệp Liên hợp Công trình I tiếp tục điều động đồng chí Lê Đức Trung và một số cán bộ chọn từ các phòng, ban, đơn vị sản xuất đến nhận công tác mới tại mỏ than Quỳnh Nhai.
Thời gian này, Giám đốc Xí nghiệp Liên hợp Công trình I quyết định sáp nhập nguyên trạng Công ty vật liệu xây dựng vào Công ty Đường 771, quân số được biên chế lại thành đội 4 Đá Trường Lâm. Một số cán bộ, công nhân dôi dư chuyển về cơ quan Công ty và bổ sung cho các đội. Trạm xá do đồng chí Trần Đức Trâm làm Bệnh xá trưởng (nhận nguyên trạng từ Công ty VLXD sang) tọa chung khuôn viên với đội 4 Đá Trường Lâm đi vào hoạt động, đến năm 1992 mới giải thể. Đồng chí Nguyễn Thị Lưu, nguyên phó giám đốc Công ty Vật liệu xây dựng chuyển sang làm Phó giám đốc Xí nghiệp đường bộ 471, đặc trách chỉ đạọ đội sản xuất đá Trường Lâm, Trạm xá khu vực Hoàng Mai và các đơn vị lân cận.
Ngày 13 tháng 11 năm 1982, tại Quyết định số 1975/QĐ-TCCB Bộ Giao thông vận tải, Xí nghiệp Liên hợp Công trình I đổi tên thành Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông khu vực 4, với nhiệm vụ mới: quản lý xây dựng cơ bản, duy tu quốc lộ 1A từ Dốc Xây (mốc chỉ giới Hà Nam Ninh -Thanh Hoá) đến km 904 (đỉnh đèo Hải Vân, biên giới tỉnh Bình - Trị - Thiên và Quảng Nam). Theo đó, Công ty Đường 771 được đổi tên thành Xí nghiệp Đường bộ 471 (thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp Xây dựng công trình giao thông khu vực 4). Công tác tổ chức nhân sự được sắp xếp lại. Đồng chí Lữ Trọng Tân được điều làm giám đốc Công ty Vật tư thiết bị 4; đồng chí Bùi Ngọc Trân, phó Chủ nhiệm Công ty Đường 771 được bổ nhiệm làm Quyền Giám đốc Xí nghiệp Đường bộ 471, nhưng lại đang bận theo học lớp cán bộ quản lý nên lãnh đạo Liên hiệp công trình giao thông khu vực 4 tạm giao đồng chí Dương Danh Dũng quyền điều hành Xí nghiệp. Tiếp đó, lãnh đạo Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng công trình giao thông khu vực 4 điều động bổ sung đồng chí Lâm Văn Hợi từ Công ty Kiến trúc 469 làm Phó Giám đốc Xí nghiệp Đường bộ 471.
Thời gian này, Đội 4 Đá Trường Lâm (do đồng chí Đinh Văn Thạch làm đội trưởng) đang thi công đường Nam cầu Ghép, quốc lộ 1A đoạn qua Chợ Kho thuộc huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá. Do các công trình của Xí nghiệp hầu hết nằm trên địa bàn Nghệ An, Thanh Hoá nên việc chỉ đạo sản xuất cách trở, khó khăn vì phải qua phà Bến Thuỷ, nhất là mùa mưa lũ. Từ thực tế đó, đồng chí Dương Danh Dũng đã xin chuyển trụ sở cơ quan Công ty từ Nghi Xuân (Hà Tĩnh) về xã Vinh Hưng, thành phố Vinh, và đến ngày 31 tháng 3 năm 1983 mới hoàn tất công việc này.
Sau khi chuyển trụ sở về Vinh, Công ty tập trung xây dựng, cải tạo, chỉnh trang lại cơ sở văn phòng với 4 dãy nhà lợp ngói cấp 4, đủ cho 5 phòng ban ở và làm việc, một dãy nhà dành riêng lãnh đạo Xí nghiệp, ban điều độ sản xuất, các đoàn thể, 1 bếp ăn tập thể kiêm nhà kho, 1 nhà trẻ và mẫu giáo. Cơ sở mới rộng rãi, thoáng mát, khang trang, thuận lợi cho sự chỉ đạo sản xuất trước mắt và lâu dài, nhưng Vinh Hưng lúc bấy giờ là địa bàn khá phức tạp, kết cấu hạ tầng yếu kém, Tæ x©y dùng Công ty vừa thành lập đã giúp địa phương xây dựng hệ thống đường sá, mương rãnh. Nhờ đó, tạo được mối quan hệ tin cậy giữa cơ quan và chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân. Lúc này Công ty đã giải thể đội chăn nuôi, một số chuyển công tác khác, còn lại biên chế thành tổ Xây dựng trực thuộc phòng Hành chính Quản trị.
Tháng 9 năm 1983, kết thúc khoá học, đồng chí Bùi Ngọc Trân trở lại điều hành Xí nghiệp với cương vị giám đốc, đồng chí Dương Danh Dũng được điều lên phòng Kế hoạch Liên hiệp. Năm 1984, đồng chí Nguyễn Đình Thọ từ Công ty Vật tư thiết bị 4 được điều động trở lại làm Phó Giám đốc Xí nghiệp đường bộ 471.
Những năm 1984 – 1985, trên cơ sở tiềm lực của đơn vị, lãnh đạo Xí nghiệp chủ trương đầu tư vươn xa, mở rộng địa bàn hoạt động. Cuối năm 1984, sau 18 tháng thi công, đội Cơ giới 3 bàn giao đường sắt vào nhà máy xi măng Bỉm Sơn, chuyển ra thi công quốc lộ 1A đoạn qua thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hoá), một bộ phận về thi công đường Hà Huy Tập đoạn từ cầu Kênh Bắc đến ngã tư Lê Hồng Phong (nay là đường Nguyễn Văn Cừ thành phố Vinh, Nghệ An). Với kinh nghiệm tích luỹ được làm đường khu đô thị Bỉm Sơn, Xí nghiệp đã hoàn thành bàn giao công trình này sau 18 tháng thi công với chất lượng tốt.
Tháng 7 năm 1985, Đội cơ giới 3 tập trung thi công bến phà 5 và 6 hạ lưu cầu Bến Thuỷ để tăng cường năng lực vận tải trên quốc lộ 1A qua sông Lam. Khu tập thể công nhân tại phường Trường Thi, thành phố Vinh, Nghệ An được hình thành từ đây. Nhiều hộ gia đình bước đầu đã có được chỗ ở ổn định sau bao năm lưu động vất vả. Nhà ăn tập thể, nhà gủi trẻ các đội, vẫn được Xí nghiệp duy trì góp phần cải thiện nâng cao đời sống, đảm bảo CBCNV yên tâm lao động, sản xuất. Cũng từ đây, kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị có sự phát triển ổn định. Với khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” năm xưa, trong hoà bình xây dựng, cán bộ công nhân viên Xí nghiệp Đường bộ 471 đã trưởng thành nhiều mặt, đưa Xí nghiệp trở thành đơn vị khá trong Liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng công trình giao thông Khu vực 4, tạo được dấu ấn, thương hiệu trong ngành giao thông vận tải với tốc độ tăng trưởng ổn định từ 15 đến 20 %/năm. Xí nghiệp đã bàn giao, đưa vào sử dụng 21 công trình với chất lượng tốt. Trong đó, có thể điểm qua một số công trình lớn như : Sân bay quân sự Sao Vàng, đường nam cầu Ghép, đường sắt vào Nhà máy xi măng Bỉm Sơn, đường, bãi, kho cảng Bến Thuỷ, đường hai đầu bến phà 5- 6 Bến Thuỷ...
Không chỉ tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh, Xí nghiệp còn làm tốt công tác dân vận, tạo được mối quan hệ thân thiện giữa Công ty với chính quyền địa phương và nhân dân nơi đóng quân. Đặc biệt, với thành phố Vinh, nơi đơn vị đứng chân, Xí nghiệp đã đóng góp nhiều ngày công lao động, hỗ trợ nhiều ca xe, ca máy san ủi mặt bằng, tham gia đào đắp, cải tạo hồ công viên Nguyễn Tất Thành, các khu du lịch, vui chơi, giải trí... góp phần đáng kể làm thay đổi diện mạo thành phố sau chiến tranh.


PHẦN III
THỜI KỲ TỪ 1986 – 2001
THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, VƯƠN LÊN KHẲNG ĐỊNH THƯƠNG HIỆU


Sau cải cách “Giá - Lương - Tiền”, năm 1985, tình hình việc làm, đời sống nhân dân nói chung, cán bộ công nhân viên ngành giao thông vận tải, và Xí nghiệp đường bộ 471 nói riêng gặp rất nhiều khó khăn.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện của đất nước. Cơ chế quan liêu bao cấp vận hành qua thời gian dài từng bước được xoá bỏ. Các doanh nghiệp được “cởi trói”, đã chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và vươn lên bằng chính năng lực của mình. Từ tháng 10 năm 1987, Xí nghiệp tiếp cận công nghệ bê tông nhựa nóng, mở đầu việc ứng dụng công nghệ mới vào lĩnh vực xây dựng cầu đường và tạo đà đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đang đặt ra ngày càng cấp bách, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc tìm kiếm việc làm của các doanh nghiệp.
Năm 1987 lần đầu tiên đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật của ta tiếp cận với công nghệ bê tông nhựa nóng tại trạm trộn thuê đặt ở Núi Nhồi (Thanh Hóa) phục vụ thi công mặt đường thị xã Thanh Hoá và vùng lân cận. Bước đầu này đã mang lại nhiều bài học đáng quí.
Tuy nhiên những năm đầu thoát khỏi cơ chế quan liêu bao cấp, từ 1986 đến 1988, Xí nghiệp phải đối mặt với không ít khó khăn. Đó là tình trạng thiếu việc làm, thiếu vốn lưu động, vốn sửa chữa thiết bị, vốn đầu tư mua sắm thiết bị mới. Đội 4 Đá Trường Lâm do đồng chí Vũ Văn Khanh làm đội trưởng thi công trạm tiếp sóng Núi Cung (Tĩnh Gia, Thanh Hoá) phải bỏ dở vì chủ đầu tư thiếu vốn. Một số công trình chỉ thi công cầm chừng. Việc làm và đời sống cán bộ công nhân viên gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, lãnh đạo Xí nghiệp xác định phải tinh giảm, sắp xếp lại bộ phận gián tiếp gọn nhẹ, cắt giảm những khâu chồng chéo, kém hiệu quả; đổi mới phương pháp quản lý sản xuất, thực hiện cơ chế giao khoán, gắn quyền lợi vật chất của người lao động với thành quả đạt được, phân công trách nhiệm rõ ràng, ưu tiên các đội sản xuất. Bộ phận tiền lương, cán bộ tham mưu nghiên cứu chế độ khoán, xây dựng nội qui, qui chế quản lý theo qui định pháp luật của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Với cách làm mới, sáng tạo, sự tâm huyết, trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên toàn xí nghiệp cùng chung lưng đấu cật để vượt qua khó khăn.
Cuối năm 1992, bộ Qui chế “Quản lý Công ty và khoán gọn công trình” đã hoàn thành và đưa vào áp dụng trong sản xuất. Quy chế qui định rõ trách nhiệm của Công ty với cấp đội và ngược lại, trong đó đặc biệt quan tâm phát huy nội lực của đơn vị, phát huy quyền làm chủ tập thể của người lao động, phân rõ trách nhiệm, quyền hạn từng bộ phận, cá nhân... Chính vì vậy phát huy được tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của mỗi cá nhân, tập thể lao động. Thực hiện bộ quy chế, đồng vốn, thiết bị, vật tư đều được sử dụng tối đa, không lãng phí, bước đầu Xí nghiệp tích luỹ được vốn, tạo đà phát triển cho những năm sau.
Trước tình hình mới, để đáp ứng yêu cầu thi công các công trình lớn, năm 1987, Xí nghiệp thành lập Ban chỉ đạo điều hành sản xuất, huy động lực lượng lớn thi công nâng cấp quốc lộ 8A (đoạn từ Km 59 đến cửa khẩu Cầu Treo) với sự tham gia của đội Cơ giới 1, đội Cơ giới 9. Tại đây, ngoài việc hoàn thành khối lượng lớn đào đắp, bê tông, kè, tường chắn, cống, rãnh xây, các đơn vị còn phải huy động thường trực một lực lượng lớn máy móc, thiết bị ứng cứu kịp thời đất sụt lở, đảm bảo giao thông trên đoạn tuyến đặc biệt này nhất là mùa mưa lũ luôn được an toàn, thông suốt với nước bạn Lào.
Thi công công trình trên đoạn tuyến giữa rừng thiêng, nước độc, điều kiện đời sống, sinh hoạt, đi lại khó khăn, nhưng các cán bộ trực tiếp chỉ đạo sản xuất, Ban chỉ huy đơn vị, anh em công nhân đã không quản ngày đêm, mưa nắng, luôn bám sát hiện trường, hạ quyết tâm thi công công trình đảm bảo chất lượng, tiến độ tốt nhất, nhanh nhất. Nhiều tấm gương lao động sáng tạo, quên mình được biểu dương, khen thưởng kịp thời.
Năm 1989, tại Đại hội Đảng bộ Xí nghiệp Đường bộ 471 lần thứ 15, đồng chí Trần Ngọc Hoàn được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, thay đồng chí Nguyễn Xuân Dương nghỉ hưu, đồng chí Lê Quang Minh, Uỷ viên Ban thường vụ, tiếp tục giữ chức Thư ký công đoàn cơ sở, đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Uỷ viên BCH, đảm nhận chức Bí thư Đoàn Thanh niên Công ty.
Về tổ chức, Xí nghiệp tiến hành sáp nhập phòng Kỹ thuật, Kế hoạch thành phòng Kinh tế - Kỹ thuật, phòng Tổ chức cán bộ, Lao động - Tiền lương nhập thành phòng Tổ chức - Lao động Tiền lương. Theo đó, Văn phòng Đảng uỷ, Công đoàn, đoàn Thanh niên Xí nghiệp đồng loạt được tinh giản, sắp xếp lại gọn nhẹ theo hướng chuyên trách. Một số cán bộ, nhân viên các phòng, ban nghiệp vụ, đoàn thể... dôi dư do tinh giảm biên chế được Xí nghiệp phân công tăng cường cho cấp đội hoặc chuyển công tác khác, ai đủ điều kiện thì giải quyết cho nghỉ hưu, còn lại áp dụng thanh toán một lần theo chế độ 176. Có thể nói, việc sắp xếp lại tổ chức, bộ máy chủ trì, đến bộ máy quản lý ở các phòng ban, tổ, đội có ý nghĩa quyết định sự thành bại trong chỉ huy điều hành sản xuất kinh doanh. Và, sự sắp xếp lại bộ máy đã giúp đơn vị vượt qua giai đoạn khó khăn.
Cùng với không ngừng phát triển sản xuất, Xí nghiệp luôn quan tâm chăm lo nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, tạo mọi điều kiện để họ yên tâm sản xuất. Từ năm 1986 đến năm 1989, nhờ sự quan tâm của lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, đơn vị đã hình thành khu tập thể tại phường Trường Thi, Lê Lợi, Đội Cung. Nhiều hộ gia đình, một số chị em có con nhỏ được chia đất làm nhà, có chỗ ở ổn định, con cái được tạo điều kiện học hành. Lần đầu tiên, sau nhiều năm làm việc gắn bó, cùng với sự hỗ trợ của Xí nghiệp, nhiều hộ gia đình cán bộ công nhân viên đã xây dựng được nhà ở, càng yên tâm cống hiến lâu dài cho Xí nghiệp.
Năm 1989, đồng chí Trần Đức Huy được bổ nhiệm làm phó Giám đốc Xí nghiệp. Đây là thời điểm các đơn vị sôi nổi tham gia chiến dịch thi công các công trình chào mừng kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-1990) và chuẩn bị hoàn thiện, bàn giao cầu Bến Thuỷ. Vào thời điểm này, tháng 7 năm 1990, đồng chí Bùi Quang Thăng được đề bạt làm phó giám đốc Công ty.
Từ năm 1989, để chủ động nguồn vật liệu cho các công trình, Xí nghiệp đầu tư lập mỏ sản xuất đá tại Hồng Lĩnh, huyện Can Lộc, giao đồng chí Trần Văn Hải, đội phó đội Cơ giới 9 trực tiếp điều hành, kế theo là đội khai thác sỏi ở Kẻ Nầm (Hương Sơn), giao cho lượng xung kích Đoàn thanh niên Công ty đảm nhận.
Có thể nói, năm 1990- năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, cũng là năm Xí nghiệp Đường bộ 471 gặt hái được nhiều thành công. Từ đây, Xí nghiệp có đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý, công nhân kỹ thuật trình độ chuyên môn khá, tay nghề vững, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Năm 1989 Công ty lắp đặt trạm trộn bê tông nhựa nóng thị trấn Quán Hành (Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh) và tiến hành rải những mét vuông bê tông nhựa nóng đầu tiên ở khu vực Bắc miền Trung. Phải nói những ngày đầu tiên ấy thật là gian khổ. Để ứng dụng công nghệ mới thành công, từ lãnh đạo đến cán bộ kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ các phòng ban, công nhân lái xe, lái máy, vận hành trạm... ngày đêm miệt mài nghiên cứu, vượt qua bao khó khăn, thách thức vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước làm chủ khoa học công nghệ. Nhờ đó, cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, công trình ngày càng được khẳng định.
Thành công bước đầu của trạm trộn bê tông nhựa, đã tiếp thêm niềm tin, sức mạnh để Xí nghiệp huy động đầu tư lắp đặt thêm 5 trạm trộn bê tông nhựa nóng với 5 dàn thi công thảm nhựa đồng bộ, hiện đại, trong có 2 trạm cỡ nhỏ (công suất 60 t/h) có thể linh hoạt cơ động ở mọi lúc, mọi nơi.
Nhờ đầu tư phương tiện, thiết bị, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào thi công, năng lực sản xuất được tăng lên, tạo hiệu quả rõ rệt trong sản xuất. Mỗi năm Xí nghiệp dành hàng tỉ đồng mua sắm máy móc, thiết bị. Mười một năm qua, số tiền Xí nghiệp đầu tư mua sắm máy móc thiết bị đạt xấp xỉ 50 tỷ đồng, tạo đà cho sự phát triển của những năm tiếp theo. Đến 2001, thiết bị của Công ty đã đảm bảo được nhiều dây chuyền sản xuất đồng bộ, công nghệ tiên tiến với trên 268 đầu thiết bị, đạt bình quân 2 lao động được trang bị một phương tiện cơ giới. Công tác quản lý vật tư, thiết bị được tăng cường. Các công trình do Công ty xây dựng đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe trong công nghệ thi công, được chủ đầu tư đánh giá cao. Việc quyết toán vật tư, nhiên liệu, khấu hao máy móc ở các công trình được thực hiện nghiêm túc, kịp thời.
Với mục tiêu mở rộng địa bàn hoạt động, ngoài các công trình do Tổng Công ty giao, Xí nghiệp cố gắng bằng biện pháp cụ thể, chủ động tìm kiếm việc làm. Các phòng ban, theo chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp chặt chẽ với đơn vị sản xuất, tính toán, hướng dẫn, giao khoán gọn và tăng cường kiểm tra, giám sát, quyết toán...Nhiều cán bộ, công nhân kỹ thuật được tạo điều kiện đi tham quan, học tập, bổ túc thêm về công nghệ mới, nhất là công nghệ xử lý nền đất yếu, móng cấp phối đá dăm, bê tông nhựa..., đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, thi công các công trình lớn, phức tạp.
Đội Cơ giới 3 sau khi bàn giao bến phà 5 và 6, tiếp tục thi công đường hai đầu cầu Bến Thuỷ, một bộ phận nhận rải thảm tỉnh lộ 549 (QL 46 sau này) đoạn từ cầu Mượu đi Kim Liên quê Bác; tháng 4 năm 1990, rải thảm tiếp đường đi quê nội, quê ngoại Bác Hồ, làng trẻ SOS, sân đường KS giao tế, đường Hồ Tùng Mậu, và một số đường chính nội thành Vinh.., phục vụ Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đặc biệt, sự kiện quan trọng, để lại dấu ấn tốt đẹp nhất trong lòng người dân xứ Nghệ có thể nhắc tới trong giai đoạn lúc bấy giờ là sự kiện thông xe cầu Bến Thuỷ với chiều dài 635 mét qua sông Lam. Đó là ngày 30 tháng 8 năm 1990, hàng vạn người dân Nghệ Tĩnh, những người thợ cầu, đường và đông đảo cán bộ công nhân viên ngành giao thông vận tải nô nức chào đón sự kiện trọng đại : Lễ thông xe cầu Bến Thuỷ!
“Nhịp cầu đã nối những bờ vui!” Niềm mơ ước từ bao đời nay của người dân Nghệ Tĩnh hai bờ sông Lam đã thành hiện thực.
Phải khẳng định là, sau khi Công ty lắp đặt trạm trộn và rải thành công bê tông nhựa nóng, vị thế, thương hiệu 471 càng được khẳng định, địa bàn hoạt động không ngừng mở rộng, vươn xa. Tổng Công ty vạch kế hoạch cụ thể giao cho Công ty đảm nhận rải mặt đường bê tông nhựa ở tất cả các dự án nội bộ và khu vực Bắc miền Trung.
Để thực hiện công nghệ mới này, tháng 4 năm 1995, Công ty đầu tư xây dựng tiếp trạm trộn bê tông nhựa nóng DSAP 1300 DS của Hàn Quốc công suất 120 T/h, cùng các thiết bị đồng bộ đi kèm như máy rải thảm 80 XA 0059 (CHLB Đức), ô tô vận tải siêu trường, siêu trọng, máy lu rung, máy gạt, xúc đào, xúc lật, máy nghiền bột đá, san tự hành... với số vốn giai đoạn từ 1986 - 2001 đạt trên 25 tỉ đồng.
Với sự giúp đỡ của các chuyên gia và đồng nghiệp, các cán bộ công nhân của đơn vị đã nhanh chóng tiếp thu, làm chủ công nghệ mới. Những mét vuông thảm nhựa đầu tiên đã được đánh giá cao về chất lượng và thẩm mỹ của chủ đầu tư và Tư vấn nước ngoài. Toàn bộ mặt cầu, đường hai đầu cầu Bến Thuỷ, đường Quán Bánh Cửa Lò, cảng Cửa Lò, quốc lộ 1A đoạn Vinh - Đền Cuông, thị trấn Diễn Châu, tỉnh lộ 549 về quê Bác... chỉ trong một thời gian ngắn đã được rải hai lớp thảm mịn và thô với chất lượng tốt nhất về kỹ thuật, mỹ thuật, góp phần làm thay đổi diện mạo hạ tầng giao thông thành phố Vinh và tỉnh nhà.
Tháng 4 năm 1991, Giám đốc Liên hiệp các Xí nghiệp XD CT GT Khu vực 4 Nguyễn Đức Kiến giao Q. giám đốc Xí nghiệp đường bộ 471 cho đồng chí Trần Đức Huy thay đồng chí Bùi Ngọc Trân đang điều trị bệnh.
Ngày 17 tháng 12 năm 1991, tại Quyết định số 2567/QĐ-TCCB của Bộ Giao thông vận tải, Liên hiệp các Xí nghiệp XD CT GT Khu vực 4 được tách ra với hai tên mới là : Tổng Công ty XDCT GT Miền Trung do đồng chí Dương Danh Dũng làm Tổng giám đốc, hoạt động theo mô hình đổi mới doanh nghiệp và Khu Quản lý Đường bộ 4, do đồng chí Nguyễn Đức Kiến làm Tổng giám đốc. Theo đó, Xí nghiệp đường bộ 471 được đổi tên thành Công ty đường bộ 471. Đây là thời kỳ thiếu việc làm trầm trọng, đời sống người lao động rất khó khăn. Công ty đã thành lập Ban sản xuất phụ (tiền thân là đội 8 của đội trưởng Vũ Văn Khanh sau này) kéo lên vùng núi Quì Hợp hợp tác liên danh với các đơn vị khác sản xuất đá Blốc xuất khẩu...
Tháng 2 năm 1992, Xí nghiệp tiếp tục tiến hành sáp nhập hai phòng Quản lý Vật tư và Quản lý Thiết bị thành phòng Quản lý Vật tư–Thiết bị nhằm tinh giản biên chế và tập trung sự điều hành về một mối.
Năm 1993, Công ty gặp nhiều khó khăn, tháng 2, đồng chí Bùi Ngọc Trân qua đời do bệnh nặng sau gần 10 năm làm giám đốc. Đồng chí Trần Đức Huy đảm nhận cương vị giám đốc và bắt đầu một chặng đường không ít khó khăn. Nhiều vấn đề nổi cộm về nội bộ Công ty đang đặt ra cần được giải quyết toàn diện, kịp thời, thấu đáo. Đây cũng là thời kỳ quá nhiều công trình chủ đầu tư thiếu vốn, Xí nghiệp phải đối mặt với khó khăn do vốn thanh toán chậm.
Thời kỳ 1991–1994, đội Cơ giới 9, Cơ giới 1, ngoài việc hoàn thành các công trình thi công dở dang trên địa bàn các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 8A, đường 13 (Lào)..., đội Cơ giới 3 nâng cấp, sửa chữa quốc lộ 1A qua thành phố Vinh và nam cầu Bến Thuỷ, đoạn km 475 - km 477, đường hai đầu cầu Nghèn, cầu Già (Hà Tĩnh), công trình đường, bãi, sân chơi Làng trẻ SOS...
Từ tháng 5 năm 1992, một lực lượng xung kích của Công ty được thành lập, chia làm hai mũi rầm rộ lên đường thi công đường dây 500 KV Bắc Nam theo kế hoạch đột xuất của Tổng Công ty. Mũi thứ nhất (đội Cơ giới 3) thi công 2 móng trụ tại xã Nam Tân và Nam Lộc huyện Nam Đàn, mũi thứ hai (đội Cơ giới 9) thi công 2 móng trụ tại huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Cùng tháng 4 năm 1992, Tổng Công ty thành lập Công trường 8 trên cơ sở sáp nhập đội 8 của Công ty 471 với đội cầu của Công ty 479 (tiền thân Công ty 492 sau này) làm đơn vị chủ công của Tổng Công ty thi công đường dây 500 KV Bắc Nam. Chỉ sau 15 tháng thi công, Xí nghiệp đã hoàn thành và bàn giao đúng tiến độ 4 móng trụ với hàng trăm mét khối bê tông cốt thép trong điều kiện hồ sơ thiết kế, bản vẽ thi công, địa chất, địa hình phức tạp cho Tổng Công ty Điện lực Việt Nam.
Tuy nhiên, sau khi hoàn thành công việc ở đường dây 500 KV Bắc Nam, việc làm cho người lao động càng khó khăn hơn. Nhiều đội, cán bộ công nhân viên phải nghỉ chờ việc không lương, kể cả cán bộ kỹ thuật. Một số người được Công ty giải quyết cho thôi việc, hoặc nghỉ một lần theo chế độ 176. Những người có hoàn cảnh khó khăn được Công ty xét hỗ trợ một phần kinh phí. Thực tế đó đã đặt ra cho lãnh đạo Xí nghiệp bài toán khó cần phải tìm lời giải. Giải pháp được đưa ra lúc này là : Tích cực tìm kiếm, mở rộng địa bàn hoạt động, trong đó chú trọng đặc biệt các khu vực kinh tế trọng điểm, mũi nhọn; Chấp nhận ứng vốn làm trước và thanh toán chậm đối với những công trình nếu thấy có hiệu quả; tạo việc làm mới bằng cách thành lập đội sản xuất phụ tại Quỳ Hợp, liên danh khai thác sản xuất đá Blôc xuất khẩu với các đơn vị, xí nghiệp, công ty khác.
Để có vốn đầu tư mua sắm thiết bị mở rộng sản xuất, ngoài vốn vay ngân hàng, Công ty huy động nguồn vốn vay trong cán bộ công nhân viên. Số tiền tuy không nhiều, nhưng đã góp phần làm giảm gánh nặng về thiếu vốn lúc bấy giờ, đồng thời cũng khẳng định tinh thần trách nhiệm của người lao động đối với xí nghiệp trong lúc khó khăn.
Tháng 11 năm 1993, đồng chí Trần Ngọc Hoàn, Bí thư Đảng uỷ kiêm phó Giám đốc chuyển lên Cơ quan Tổng Công ty, đồng chí Vũ Hào thôi chức đội trưởng đội Cơ giới 1 về phụ trách công tác Đảng cho đến kỳ đại hội Đảng bộ Công ty năm 1994 được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, tiếp đó, đồng chí Nguyễn Hữu Long được đề bạt làm phó Giám đốc Công ty.
Sau hai năm (1992 – 1993) đầy khó khăn vì những lý do khách quan, Xí nghiệp đã sớm khắc phục, tạo thế và lực mới cho sự phát triển giai đoạn tiếp theo. Tháng 12 năm 1994, Công ty hoàn thành trụ sở làm việc mới, với tổng trị giá gần 1 tỷ đồng, tạo điều kiện cho đơn vị hoạt động ngày càng hiệu quả. Cùng thời điểm này đồng chí Trần Đức Huy được bổ nhiệm làm phó Tổng giám đốc Tổng Công ty XDCT giao thông 4 nhưng vẫn kiêm nhiệm chức vụ giám đốc như cũ. Lúc này phòng Quản lý Chất lượng vừa được thành lập và đi vào hoạt động. Bước đầu, phòng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nội bộ chất lượng sản phẩm đầu vào, soạn thảo lập đề cương theo dõi hướng dẫn chi tiết công tác thí nghiệm từng công trình. Tất cả anh em đều phải tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, vừa học, vừa làm, tạo thói quen và từng bước đưa công tác quản lý chất lượng công trình vào nền nếp, để đến năm 2000, Công ty hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000.
Từ quí I năm 1995, đội Cơ giới 1 triển khai thi công dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn từ ngã tư thị xã Bỉm Sơn-Dốc Xây với khối l­ượng đào đắp lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, thông qua sự giám sát chất lượng của Viện Khoa học công nghệ - Bộ Giao thông Vận tải. Đây được xem là dịp thử sức đầu tiên và đáng nhớ nhất của cán bộ phòng Quản lý chất lượng, cán bộ kỹ thuật. Cũng từ đây, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ của Công ty có thêm nhiều bài học bổ ích rút ra từ thực tiễn sản xuất.
Ngày 02 tháng 12 năm 1995, tại Quyết định số 4985/QĐ-TCCB, Bộ Giao thông vận tải đổi tên Tổng Công ty XDCT Miền Trung thành Tổng Công ty XD CT GT 4, điều động đồng chí Nguyễn Hải Kiêm, Trưởng phòng Kinh doanh của Tổng Công ty làm Phó Giám đốc Công ty Đường bộ 471. Tháng 4 năm 1996, đồng chí Trần Đức Huy, phó Tổng Giám đốc được điều động lên cơ quan Tổng, đồng chí Nguyễn Hữu Long đ­ược giao Q. Giám đốc Công ty.
Sự thay đổi nhân sự đáng kể này lại nảy sinh khó khăn mới cho Công ty, nhưng với sự đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo, sự ủng hộ của tập thể cán bộ công nhân viên Công ty, và sự quan tâm chỉ đạo của Tổng Công ty, đơn vị đã từng bước khắc phục khó khăn, ổn định tình hình. Từ khoảng nửa cuối năm 1995 đến năm 1999, nhờ năng lực thi công được nâng lên, uy tín, thương hiệu của Công ty ngày càng được khẳng định, Công ty trúng thầu nhiều công trình có giá trị lớn. Theo đó, phạm vi hoạt động của Công ty cũng mở rộng, trải dài từ Thanh Hoá đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ như­ Bà Rịa-Vũng Tàu, Vĩnh Long. Lãnh đạo Công ty, các phòng ban, đã bao phen tất tả ngược xuôi vào Nam, ra Bắc lo điều hành, chỉ đạo sản xuất, lo nghiệm thu thanh toán. Đội Cơ giới 1 thi công và bàn giao nhiều dự án lớn trên địa bàn Thanh Hoá, đáng kể nhất là dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 1A qua thị xã Bỉm Sơn, đường 2 đầu cầu Tào Xuyên, Bắc Hàm Rồng, đường vào Nhà máy xi măng Nghi Sơn. Tháng 10 năm 1997, Công ty triển khai phương án thi công đường vào cảng Chân Mây, đường chân đèo Phú Gia thuộc huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), cầu Quán Hàu (Quảng Bình), đường khu nghỉ mát Cửa Lò, đại lộ 3-2 (nay là đại lộ Lênin, T.P Vinh), quốc lộ 46 đoạn Chợ Cồn (Thanh Chương), đường tránh thành phố Huế...
Đội 4 đá Trư­ờng Lâm sau khi bàn giao công trình đư­ờng vào bệnh viện phong Quỳnh Lập (Quỳnh L­ưu), chuyển về làm đ­ường vào Nhà máy xi măng Hoàng Mai, tiếp đến nâng cấp, mở rộng quốc lộ 48- địa phận Quỳ Châu, Nghệ An, dự án đường giao thông nông thôn Hồng - Hải, huyện Diễn Châu. Đội Cơ giới 3 tiếp tục công việc truyền thống rải thảm, nâng cấp quốc lộ 46 đoạn Quán Bánh-Cửa Lò, quốc lộ 8A, nút giao thị xã Hồng Lĩnh, đường nối quốc lộ 1A với cảng Vũng Áng giai đoạn I, lắp đặt trạm nghiền sàng sản xuất đá tại Kỳ Anh phục vụ thi công đường nối cảng Vũng Áng - quốc lộ 1A.
Đội Cơ giới 9 tập trung thi công dứt điểm quốc lộ 24 (Kon Tum), quốc lộ 54 (Vĩnh Long), quốc lộ 51 (Bà Rịa-Vũng Tàu), đường, bãi nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), một bộ phận thi công đ­ường Yên-Đà Sơn (Đô Lương) thuộc dự án đường giao thông nông thôn do PMU 18 làm chủ đầu t­ư
Tháng 8 năm 1996, Công ty thành lập Công trường đường 9 (tiền thân đội 10 ngày nay) do đồng chí V­ương Đình Ngũ làm đội trưởng, Đặng Minh Hồng đội phó. Đây là lực lượng chính thi công quốc lộ 9 (Quảng Trị). Tuy mới thành lập, khó khăn nhiều bề, như­ng ngay từ buổi đầu, tập thể Ban chỉ huy Công trường và cán bộ công nhân viên đã sớm ổn định tổ chức và làm việc có hiệu quả, luôn thể hiện là đơn vị có năng lực, tự tin góp phần xứng đáng vào sự lớn mạnh của Công ty. Tháng 11 năm 1999, đội trưởng Đặng Minh Hồng dẫn đơn vị ra Hà Tĩnh tăng cường cho dự án khôi phục, nâng cấp quốc lộ 1A đoạn Vinh - cầu Họ (đồng chí Vương Đình Ngũ lúc này đã về làm đội trưởng Cơ giới 3, đến năm 2000 chuyển giao đồng chí Hồ Tuấn Dũng, đội phó phụ trách để làm giám đốc điều hành dự án từ 11-1999, thay đồng chí Nguyễn Quang Vinh làm phó Giám đốc Công ty).
Cùng với việc đầu tư, bồi dưỡng nhân tố con người, lãnh đạo Công ty xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn hệ thống máy móc, thiết bị. Lực lượng công nhân, lái xe, lái máy, thợ vận hành thiết bị, thợ sữa chữa được kiểm tra lại để lập kế hoạch đào tạo, bổ sung cho dây chuyền sản xuất mới. Xác định công nghệ và thiết bị là vũ khí chính, bằng nhiều nguồn vốn (kể cả vốn huy động từ cán bộ công nhân viên và bên ngoài...), Xí nghiệp từng bước hoàn thiện hệ thống công nghệ. Các đơn vị chủ động và chứng minh được năng lực, hiệu quả sản xuất của đơn vị mình trước giám đốc. Chủ trư­ơng của lãnh đạo là đội nào hoàn thành tốt nhiệm vụ kỳ tr­ước sẽ được ưu tiên nhận tiếp công việc, đã tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn đơn vị.
Để góp phần cùng Công ty đẩy nhanh tiến độ HĐ1 dự án khôi phục, nâng cấp quốc lộ 1A đoạn Vinh-cầu Họ, Công ty quyết định thành lập đội 7 (01-3-1999) do đồng chí Hoàng Sĩ Thu làm đội trưởng (từ tháng 5 năm 2002 đồng chí Nguyễn Thanh Tĩnh làm đội trưởng cho đến bây giờ).
Công đoàn Công ty thành lập lực lượng xung kích và giao nhiệm vụ cho các đồng chí Bùi Minh Quỳnh, Trần Văn Phái trực tiếp chỉ đạo, điều hành mũi xây kè ốp mái ta luy và hệ thống mương, rãnh toàn tuyến. Khí thế thi đua lao động sản xuất giữa các đội được đẩy mạnh. Ngư­ời lao động làm việc tự giác, có năng suất, kỷ luật hơn. Cơ chế quản lý các đội cũng trở nên linh hoạt hơn. Tiền l­ương bộ máy gián tiếp được tính theo hệ số K và phụ thuộc vào năng suất lao động của các đội. Hoạt động quản lý, điều hành của Công ty từng b­ước được cải tiến một cách khoa học, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sản xuất.
Tháng 4 năm 1999, đồng chí Nguyễn Hữu Long được bổ nhiệm làm phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Xây dựng công trình Giao thông 4, đồng chí Trần Văn Chín-Q. Giám đốc Công ty kiêm Trưởng ban điều hành dự án khôi phục, cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A gói thầu số 1 đoạn Vinh-cầu Họ. Tiếp đến đề bạt đồng chí Phạm Bá Điều, Trưởng phòng Quản lý Vật tư-Thiết bị làm phó giám đốc.
Để phù hợp nhiệm vụ mới, lãnh đạo Công ty quyết định tách phòng Kinh tế-Kỹ thuật thành phòng Kinh doanh và phòng Kỹ thuật, sau khi tách sáp nhập với phòng Quản lý Chất lượng thành phòng Kỹ thuật-Chất lượng, phòng Nhân chính thành phòng Tổ chức cán bộ-Lao động tiền lương và phòng Hành chính Quản trị. Từ tháng 5- 1999, dự án khôi phục, cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A (gói số 1) do Tổng Công ty Công trình Giao thông 4 làm tổng thầu đã bắt đầu thi công rầm rộ. Các Ban điều hành dự án, trạm thí nghiệm Hồng Lĩnh của Tổng Công ty, các Công ty thành viên 482, 423, 471, Cơ khí công trình CT65, và các nhà thầu phụ... đã dàn trải lực lượng theo nhiệm vụ được giao, làm việc tốc lực suốt ngày đêm. Các đội Cơ giới 3, đội 10, đội 7... của Công ty Đường bộ 471 với nhiều máy móc hiện đại, trạm trộn bê tông nhựa nóng... đều đã sẵn sàng hoạt động. Đây là dự án lớn, có nhiều đơn vị tham gia với những hạng mục thi công phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật tiêu chuẩn quốc tế, tiến độ theo yêu cầu chung. Ban điều hành Công ty do đồng chí Nguyễn Quang Vinh làm Trưởng ban đã huy động tối đa nhân lực, thiết bị, với biện pháp tổ chức thi công chi tiết, tỷ mỷ từng hạng mục công trình, tổ, bộ phận... theo kế hoạch chỉ đạo tổng thể, trực tiếp của Ban điều hành Tổng Công ty và Tư vấn giám sát quốc tế.
Nhờ áp dụng chế độ kiểm tra, báo cáo chặt chẽ hàng ngày nên mọi vướng mắc nảy sinh trong quá trình điều hành sản xuất đều được phát hiện, xử lý kịp thời. Năm 2000, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Công ty có nhiều biến động. Tháng 1, Tổng Công ty điều động bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Hải Kiêm làm Giám đốc chi nhánh Hà Nội; tháng 3, điều động đồng chí Phạm Bá Điều làm Trưởng phòng Quản lý Thiết bị Tổng Công ty; tháng 10 đề bạt đồng chí Đặng Đình Thảo làm Phó giám đốc. Kế theo đó, Công trường Tam Kỳ ra đời do đồng chí Ngô Sĩ Hồng làm chỉ huy trưởng đảm nhận thi công đường hai đầu Tam Kỳ (Quảng Ngãi).
Thời gian này, dự án quốc lộ 1A đang được thi công rất khẩn trương. Để đẩy nhanh tiến độ, lãnh đạo Công ty quyết thành lập đội Bê tông do đồng chí Võ Trọng Chất trực tiếp chỉ huy. Đội có nhiệm vụ sản xuất, cung cấp các cấu kiện lắp ghép phục vụ thi công công trình cống tròn, cống hộp, nắp đậy hố ga, hố thu, bản giảm tải, rãnh... của toàn bộ dự án, phối hợp nhịp nhàng với đội thợ xây của Công đoàn hoàn thiện các hạng mục xây kè, ốp mái ta luy, cống rãnh, vỉa hè...
Qua 2 năm nỗ lực phấn đấu, với tinh thần lao động sáng tạo, các đơn vị đã hoàn thành một khối lượng công việc nặng nề, đầy khó khăn, góp phần bàn giao dự án đúng tiến độ và chất lượng tốt. Tháng 4 năm 2001, bổ nhiệm đồng chí Vũ Văn Hào, Bí thư Đảng uỷ làm phó giám đốc nội chính kiêm Trưởng ban điều hành dự án đường Hồ Chí Minh; tháng 3, đồng chí Nguyễn Quang Vinh nhận nhiệm vụ mới: Q. Giám đốc Công ty xây dựng Công trình Giao thông 482. Thời gian này một lực lượng lớn của Công ty, mà chủ yếu là đội 7 đang đẩy mạnh thi công dự án đường Hồ Chí Minh (Quảng Bình). Tại Khe Gát, các kỹ sư và công nhân kỹ thuật của đội 7 và phòng quản lý Xe máy-Thiết bị đã thành công trong việc lắp đặt trạm sản xuất vật liệu xây dựng khá hiện đại phục vụ kịp thời cho dự án. Ngoài ra, lần đầu tiên các cán bộ kỹ thuật và anh em thợ đường, thợ cơ khí của ta với sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc đã ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới OVM (Trung Quốc) về kiên cố hoá mái ta luy. Và có thể nói cũng tại đây các cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề ... đã rút ra nhiều bài học bổ ích.
Ngày 8 tháng 9 năm 2001, tại thành phố Vinh (Nghệ An), Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức lễ thông xe dự án “Khôi phục, cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A đoạn Vinh-Đông Hà”, mở ra một trang mới trên bước đường hội nhập và phát triển của Tổng Công ty nói chung và Công ty đường bộ 471 nói riêng.
Tháng 10 năm 2001, Công ty tách phòng Quản lý Vật tư-Thiết bị thành 2 phòng Quản lý Vật tư và phòng Quản lý thiết bị. Tháng 12 năm 2001, Tổng Công ty bổ nhiệm đồng chí Vương Đình Ngũ làm Phó Giám đốc, đồng chí Hồ Tuấn Dũng - Đội trưởng đội Cơ giới 3. Nhìn chung, giai đoạn này đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Công ty và các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ, các đội sản xuất đều được đổi mới, trẻ hoá tới 60-70%. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, lãnh đạo Công ty đặc biệt quan tâm thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật, tài trợ những sinh viên học giỏi có nguyện vọng về Công ty công tác. Lực lượng công nhân kỹ thuật như lái xe, thợ vận hành máy, thợ sửa chữa... cũng được rà soát, kiểm tra lại để có kế hoạch đào tạo, bổ sung đáp ứng dây chuyền sản xuất mới.
Nhờ cách làm nêu trên, tính đến thời điểm năm 2001, Công ty đã có một đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, lành nghề với trên 70 kỹ sư, 35 trung cấp, hơn 300 công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên, trên tổng số 520 cán bộ công nhân viên. Lãnh đạo Công ty còn chú ý đến việc đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực đội ngũ công nhân thí nghiệm, góp phần hoàn chỉnh chính sách chất lượng theo hệ thống quản lý quốc tế ISO 9001-2000.
Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, đào tạo công nhân lành nghề, thợ bậc cao luôn được lãnh đạo Công ty quan tâm, được CBCNV nhiệt tình hưởng ứng và đã phát huy hiệu quả. Chỉ tính từ năm 1990 đến năm 2000, Ban sáng kiến Công ty đã xét thưởng 50 sáng kiến có giá trị kinh tế hàng tỉ đồng. Tiêu biểu là sáng kiến của tập thể cán bộ, kỹ s­ư cơ khí, thợ bậc cao chế tạo hệ thống dập bụi ư­ớt trạm trộn bê tông nhựa Đông Sung (Hàn Quốc) đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật được Hội đồng KHKT-MT Nghệ An, Tổng Công ty XD CT GT 4 đánh giá cao, tiết kiệm 450 triệu đồng; sáng kiến chế tạo bộ trộn nhựa pha dầu (MC) của phòng Quản lý Vật tư-Thiết bị tại trạm trộn bê tông nhựa Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) phục vụ thi công dự án QL 1A đoạn Vinh-cầu Họ, giúp Công ty không phải mua nhựa MC, làm lợi hàng trăm triệu đồng, lại vừa chủ động trong thi công; sáng kiến cải tiến các bộ phận nghiền sàng của trạm nghiền sàng đá 739-740, phục vụ sản xuất cấp phối đá dăm các loại theo tiêu chuẩn kỹ thuật AASHTO, được Tư­ vấn PMU 1 chấp thuận; sáng kiến cải tiến bôi trơn lu phục vụ dây chuyền thi công bê tông nhựa nóng..., Công ty đã trích thư­ởng trên 400 triệu đồng, 9 tập thể và cá nhân đã đ­ược Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng bằng “Lao động sáng tạo”, cùng nhiều phần thưởng của các cấp, bộ, ngành, Tổng công ty...
Những sáng kiến đó thực sự đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các công trình, tạo nên thương hiệu của Công ty. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng của Công ty tăng nhanh. Năm 2000, Công ty thực hiện giá trị sản lượng đạt 90,504 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng lớn gấp 20 lần so với năm 1990). Bình quân giá trị sản lượng hàng năm tăng 20-25%. Liên tục 7 năm liền, đơn vị đạt giá trị tổng sản lượng cao nhất Tổng Công ty.
Những phần thưởng và danh hiệu cao quý :
- Đảng bộ được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh từ năm 1988 đến năm 2001.
- Công đoàn cơ sở, Đoàn Thanh niên Công ty luôn đạt danh hiệu thi đua cao nhất.
- Tự vệ Công ty nhiều năm liền là “Đơn vị Quyết thắng”
- Danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới” (năm 2000)
- Huân chương Lao động hạng Ba: Trần Văn Chín, Giám đốc (năm 2000)
- Huân chương Lao động hạng Ba tập thể CBCNV đội CG 3 (năm 2000)
- 2 Huân chương Lao động hạng Hai (1985 – 1995)
- Huân chương Lao động hạng Nhất cho tập thể CBCNV Công ty (1999)
- Cờ “ Đơn vị Thi đua xuất sắc” Bộ GTVT (1993 – 2001).
Với những thành tích nêu trên, có thể khẳng định : thời kỳ 1986-2001 là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của Công ty.
Là đơn vị được thành lập, tôi luyện, thử thách và trưởng thành trong chiến tranh ác liệt, phải di chuyển địa điểm làm việc, trụ sở cơ quan nhiều lần, nhiều nơi, xa hàng trăm cây số, nhưng Công ty vẫn ổn định sản xuất và phát triển với tốc độ cao. Thương hiệu 471 thực sự tạo được dấu ấn trong ngành giao thông vận tải nước nhà.
Ghi nhận thành tích đó, ngày 4 tháng 3 năm 2001, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập (19/5/1971-19/5/2001), tập thể cán bộ công nhân viên Công ty phấn khởi đón nhận danh hiệu cao quý : “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới” của Chủ tịch nước trao tặng.



PHẦN IV
GIAI ĐOẠN TỪ 2002 ĐẾN NAY
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐƠN VỊ ANH HÙNG LAO ĐỘNG,
THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN DOANH NGHIỆP,
VỮNG BƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN


1, Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, giữ vững thương hiệu
Đầu năm 2002, ngay sau khi bàn giao quốc lộ 1A đoạn Vinh – cầu Họ, tỉnh lộ 1 Gia Lách- cảng Xuân Phổ (Hà Tĩnh), Công ty tiếp tục triển khai và chuẩn bị kế hoạch cho hàng loạt công trình mới như : đường Nguyễn Biểu - thị xã Hà Tĩnh, tỉnh lộ 4- thị trấn Cẩm Xuyên- khu nghỉ mát Thiên Cầm, thảm nhựa đường Nguyễn Du, Lý Tự Trọng, Nam Cẩm Xuyên, E mê nhít, đường 2-3 thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh)...
Để chủ động trong sản xuất kinh doanh, Công ty đã đầu tư hàng loạt tài sản cố định mới nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện tại, vừa đón bắt xu thế phát triển tất yếu trong tương lai. Theo đó, Công ty lập kế hoạch mua thêm nhiều thiết bị mới với số tiền đã đầu tư trong năm là 8,5 tỉ đồng gồm : ô tô vận tải cỡ lớn KAMAZ 65115, máy rải thảm, máy nén khí, lu rung bánh lốp, lu tĩnh 3 bánh sắt. Nhiều khoản đầu tư trở thành bắt buộc và có tính chiến lược mới bảo đảm tiến độ công trình.
Với lực lượng lao động, thiết bị sẵn có, Công ty trúng thầu nhiều dự án lớn như: dự án nâng cấp quốc lộ 1A đoạn Hải Lăng (Quảng Trị), cải tạo đoạn ngập lụt thị trấn Châu Ổ (Quảng Ngãi), đường nối QL 1A với đường Trần Phú (TP Nha Trang), đường Phước Tân – Bãi Ngà (Phú Yên), dự án đường Hồ Chí Minh, các dự án BOT : đường tránh thành phố Huế, đường tránh thành phố Vinh, quốc lộ 38 (Hà Nam)...
Cuối năm 2002, sau khi bàn giao xong công trình đường hai đầu cầu Tam Kỳ (Quảng Ngãi), Công trường Tam Kỳ giải thể và được sáp nhập vào đội Cơ giới 9, ngay sau đó chuyển ra thi công dự án mở rộng, nâng cấp quốc lộ 38 (Hà Nam). Đây cũng là thời điểm Công ty đầu tư dây chuyền bê tông nhựa nóng hiện đại thứ hai, tiếp tục khẳng định thương hiệu 471 trong giai đoạn cạnh tranh, hội nhập.
Tháng 5 năm 2002, đồng chí Nguyễn Đình Thọ, Phó Giám đốc nghỉ hưu, tháng 8, đồng chí Đặng Đình Thảo được điều động làm Giám đốc Công ty công trình giao thông 475, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Vĩnh Lộc, kế toán trưởng làm phó Giám đốc Công ty. Tháng 6 năm 2002, sau nhiều năm tích cực đầu tư, chuẩn bị, Trung tâm Thí nghiệm vật liệu xây dựng Las-86 chính thức được cấp giấy phép hoạt động, bước đầu phát huy hiệu quả, chủ động kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm, công trình liên danh, liên kết với các đơn vị bạn. Công ty đã từng bước đầu tư mua sắm các thiết bị thí nghiệm hiện đại, chăm lo xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân thí nghiệm lành nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Đầu năm 2002, Công ty ban hành áp dụng bản “Tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của Công ty Đường bộ 471”. Văn bản đã thực sự tạo chuyển biến trong công tác cán bộ, bước đầu phát huy hiệu quả tốt trong điều hành sản xuất.
Năm 2003, Công ty thành lập Công trường 538 (tiền thân của đội 5 ngày nay), đảm nhận thi công dự án nâng cấp TL 538 Km0-Km22 (Yên Thành, Nghệ An), và Công trường Quốc lộ 3 do đồng chí Nguyễn Nam Trung làm chỉ huy trưởng trực tiếp thi công (gói thâù 7) đoạn Bờ Đậu-Thủy Khẩu, đến năm 2006 bàn giao công trình, giải thể trả lại quân số về đơn vị cũ, một số nhận nhiệm vụ mới. Đội 4 mở rộng, nâng cấp nền mặt Quốc lộ 48 Km33-Km38 (Nghĩa Đàn, Nghệ An), quốc lộ 46 (Vinh-Nam Đàn), đội 7 thi công đường Hồ Chí Minh về quê Bác (Nam Đàn-cầu Rộ). Đội Cơ giới 3 giúp phường Đội Cung thi công đoạn nối đường Trần Hưng Đạo với khu gia đình Cơ quan Công ty, hoàn thiện văn phòng làm việc của đội tại phường Trường Thi, dự án đường ven sông Lam... Đội 10 khởi công đường nối QL 1A với đường Trần Phú (TP Nha Trang). Năm 2004, một bộ phận đảm nhiệm thi công đường Phước Tân - Bãi Ngà (Phú Yên), cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A đoạn thị trấn Tứ Hạ (thành phố Huế).
Nhờ triển khai đồng bộ nhiều dự án, nên doanh thu của Công ty tăng, năm 2003 đạt 127 tỷ đồng, hàng năm đều giữ mức tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, ngay sau đó, Công ty phải đương đầu với không ít khó khăn, công nhân thiếu việc làm, bức tranh tài chính của đơn vị trở nên ảm đạm. Tình trạng nợ lương công nhân kéo dài nhiều tháng liên tiếp, bảo hiểm tồn đọng không được giải quyết kịp thời. Một số công trình nhận làm thầu phụ hiệu quả thấp. Khả năng huy động vốn kém, do nợ quá hạn ngân hàng bị chiếm dụng với số lượng lớn, thời gian kéo dài. Đơn cử trong giai đoạn từ năm 2002 đến cuối năm 2004, Công ty đã phải đi vay với số tiền dư nợ lên tới 70 tỉ đồng, trong đó vay ngắn hạn ngân hàng 49,3 tỉ, vay ngắn hạn các đối tượng khác 10,2 tỉ, vay dài hạn ngân hàng 9,3 tỉ. Do tình hình khó khăn chung của đất nước và ngành xây dựng, các công trình thanh toán chậm. Chủ đầu tư nợ phiếu giá với số tiền lên tới 70,6 tỉ đồng, các ngân hàng siết chặt cho vay, dòng vốn của Công ty bị ứ đọng dẫn tới hoạt động sản xuất kinh doanh có lúc bị ngưng trệ.
Có thể minh hoạ bằng số liệu cụ thể theo biểu lập dưới đây để thấy
khó khăn lúc bấy giờ của đơn vị (Giá trị ghi trong bảng tính là: tỷ VND)

Năm Danh mục tài khoản
2002
2003
2004
2005
2006
Các đối tác nợ trả chậm
30
62
70


Vay ngắn hạn ngân hàng
45
43,1
49.3


Vay ngắn hạn các đối tượng khác
11,3
10,2
10,1
6,4
3
Vay dài hạn
15,7
17,2
9,3
1,4
50
Nợ tiền lương

1,5
1,6
3,1

Tháng 2 năm 2004, lãnh đạo Tổng Công ty quyết định điều chuyển đồng chí Trần Văn Chín lên phòng Kiểm toán của Tổng, điều động đồng chí Nguyễn Quang Vinh - Giám đốc Công ty Cổ phần xây dựng công trình Giao thông 482 làm giám đốc Công ty Đường bộ 471. Giám đốc mới là người rất am hiểu tình hình và thực lực của Công ty, đặc biệt giai đoạn này ngân hàng đã chấp nhận cơ cấu lại các khoản nợ, giãn nợ vay cho Công ty. Mọi vướng mắc được xem xét một cách kỹ lưỡng và khó khăn từng bước được tháo gỡ. Các công trình có khả năng thu hồi vốn nhanh được ngân hàng đáp ứng cho vay vốn. Đảng uỷ và Ban Giám đốc Công ty cùng với Ban chấp hành công đoàn nhanh chóng kiện toàn lại Công ty, triệu tập hội nghị cán bộ chủ chốt, nhất trí thông qua kế hoạch, phương hướng phát triển Công ty năm 2005 và các năm tiếp theo.
Tháng 1 năm 2005, Công ty điều động, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Vĩnh Lộc làm kế toán trưởng Tổng Công ty, đồng chí Đặng Minh Hồng - phó giám đốc phụ trách các công trình phía Nam từ Thừa Thiên Huế trở vào.
Nhờ khẩn trương kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy, sớm đưa ra được kế hoạch, định hướng phát triển, nên trong giai đoạn 2004 đến 2006, Công ty đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, thực hiện có hiệu quả các giải pháp nhằm giảm giá thành xây dựng, tập trung nguồn tài chính và năng lực để hoàn thành các dự án, công trình trọng điểm dở dang như dự án đường tránh thành phố Huế, đường tránh thành phố Vinh, đường nối quốc lộ 1A với đường Trần Phú (TP Nha Trang), dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh....
Cùng thời gian đó, Công ty tham gia đấu thầu các công trình mới như : dự án nâng cấp Quốc lộ II đoạn Đền Hùng - Đoan Hùng ( Phú Thọ), cảng Vũng Áng (giai đoạn II), quốc lộ 48 kéo dài đoạn Kim Sơn - Phú Phương - Thông Thụ (Quế Phong), quốc lộ 279 Tuần Giáo - Điện Biên - Tây Trang...
Các dự án được triển khai thực hiện, với hàng loạt biện pháp tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh được áp dụng và mang lại hiệu quả thiết thực, tạo niềm tin cho người lao động. Khó khăn về tài chính từng bước được tháo gỡ, khắc phục, đời sống, niềm tin của người lao động được nâng lên rõ rệt.
Cuối năm 2006, Công ty thành lập Công trường Đồng Xoài (tiền thân của Đội 6 ngày nay) do đồng chí Trương Tuấn Giang làm đội trưởng. Công trường có nhiệm vụ thi công đường nội thị Đồng Xoài (Bình Phước) thuộc dự án đường Hồ Chí Minh. Năm 2007, do chưa giải phóng được mặt bằng, đơn vị gấp rút chuyển quân ra làm đường vào mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Năm 2008 triển khai thi công gói 4 và 1 tiểu dự án đường sắt Phả Lại - Hạ Long-Cái Lân. Qua thực tiễn xây dựng các công trình, năng lực thi công của đội ngày càng được khẳng định.
Thời điểm này, Công ty đã có bước phát triển vượt bậc cả về năng lực sản xuất, cả đầu tư chiều sâu kỹ thuật, đủ điều kiện thi công, hoàn thành các dự án lớn, kỹ thuật phức tạp, theo kịp tốc độ phát triển kỹ nghệ hiện đại của ngành xây dựng. Tài sản cố định của Công ty không ngừng tăng lên, đủ sức đảm đương thi công một lúc nhiều dự án lớn. Về cơ bản cuối năm 2006 Công ty đã trả hết nợ ngân hàng. Đây là kết quả đáng khích lệ, là nhân tố quan trọng nhằm khắc phục khó khăn hiện tại và tạo đà phát triển mới trong tương lai. Năm 2006, giá trị sản lượng tuy chỉ đạt 174,46 tỷ đồng (tăng 4,3 % so với năm 2005) do còn phải trang trải trả nợ ngân hàng, nhưng tài chính của đơn vị đã có nhiều khởi sắc.
Đầu năm 2007, Công ty tiếp tục triển khai thi công dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ II đoạn Đền Hùng - Đoan Hùng (Phú Thọ). Đây là công trình gồm nhiều hạng mục, phức tạp, khối lượng lớn, do Ban quản lý dự án 6 làm chủ đầu tư. Để dự án thực hiện kết quả tốt, Công ty đã chuẩn bị tốt mọi mặt từ nhân lực, thiết bị, phương pháp quản lý, tổ chức có hiệu quả từng công đoạn như việc giải phóng mặt bằng, thiết kế bản vẽ thi công, đúc ống cống, cấu kiện bê tông, công tác thí nghiệm đánh giá chất lượng sản phẩm, nghiệm thu thanh toán các đợt, bù trượt giá vật liệu do khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008... Cũng tại công trình này, Công ty đã lắp đặt tiếp trạm trộn bê tông nhựa nóng Atech cùng máy rải thảm công nghệ hiện đại của Cộng hoà Liên bang Đức.
Thời gian này do thiếu vốn, dự án đường nối Quốc lộ 1A với đường Trần Phú (TP Nha Trang) chỉ thi công cầm chừng. Đường Hồ Chí Minh đoạn nội thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) do mặt bằng giải phóng chậm nên đội chỉ tập trung hoàn thành đúc cấu kiện bê tông lắp ghép, sau đó tạm rút về thi công đường mỏ sắt Thạch khê (Hà Tĩnh) và gói 4 dự án nền đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân.
Đội 5 sau khi bàn giao công trình cảng Vũng Áng, tiếp tục chuyển ra thi công đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (gói EX 7). Đây là công trình liên danh với nước ngoài, đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật. Các dự án đường Phước Tân-Bãi Ngà, nâng cấp quốc lộ 1A đoạn qua Thị trấn Tứ Hạ, đường Hồ Chí Minh về quê Bác, quốc lộ III gói thầu 7 (đoạn Bờ Đậu-Thuỷ Khẩu), đường ven sông Lam (Nghệ An), đường tránh thành phố Vinh... đã được bàn giao đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật. Một số dự án đang trong giai đoạn bảo hành như dự án đường phía Tây Nghệ An TN3, quốc lộ 279 Điện Biên - Tuần Giáo - Tây Trang, quốc lộ 12 (Lai Châu), quốc lộ 279 (Bắc Kạn), tiểu dự án đường sắt Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân, độ. Ở phía Bắc, các gói 3 và 4 quốc lộ III (Thái Nguyên-Bắc Cạn) Công ty đang tập trung mọi cố gắng, nguồn lực đẩy nhanh tiến độ.
Mặc dù cùng đồng thời tiến hành nhiều dự án, nhưng quan điểm của lãnh đạo Công ty là chủ động nắm bắt thị trường, tập trung đầu tư công nghệ mới hiện đại, giành ưu thế bằng cách xây dựng và phát triển thương hiệu mạnh, tạo uy tín đối với khách hàng bằng những sản phẩm, công trình có chất lượng cao.
Để làm được điều đó, Công ty đưa ra các giải pháp : tiếp cận nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thông tin, từ đó chọn lọc, xử lý thông tin, đẩy mạnh ứng dụng KHKT phục vụ tốt nhất cho quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Công ty chú trọng khai thác có hiệu quả thiết bị và công nghệ hiện có, tích cực hợp tác trao đổi kinh nghiệm với các doanh nghiệp đã thành danh. Lãnh đạo Công ty cũng xác định, yếu tố quan trọng nhất là chất lượng nguồn nhân lực, là yếu tố con người, trong đó vai trò người lãnh đạo đứng đầu cực kỳ quan trọng, nhằm tạo ra một môi trường làm việc tích cực, giúp mọi người phát huy tối đa năng lực của mình, cống hiến cho đơn vị. Quan điểm này là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển của Công ty qua các thời kỳ.
Trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước do khủng khoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, bão giá vật liệu xây dựng không ngừng tăng, thị trường bất động sản đóng băng, cùng điều kiện thời tiết thất thường, Công ty cũng gặp không ít khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức, điều hành sản xuất trên công trường và làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung. Thêm vào đó, sự canh tranh giữa các đơn vị trong ngành cũng là một thách thức lớn đối với cán bộ, công nhân viên toàn đơn vị. Để giải quyết khó khăn trên, lãnh đạo Công ty đã phát huy những tiềm năng, lợi thế hiện có, tăng cường tìm kiếm việc làm, thu hút các dự án, đảm bảo sản xuất kinh doanh và đời sống người lao động. Trên cơ sở đó, phân công trách nhiệm và vai trò của từng cá nhân, các bộ phận liên quan để phát huy tính chủ động cũng như trách nhiệm trong công tác tìm kiếm việc làm. Đổi mới cơ chế quản lý linh hoạt, dân chủ, gắn trách nhiệm, quyền lợi của người lao động với chất lượng công trình. Thực hiện khoán đơn giá cụ thể cho cấp đội để họ chủ động hơn trong quá trình điều hành sản xuất. Theo đó, Công ty chú trọng bổ sung đội ngũ cán bộ kỹ thuật, chỉ huy trưởng công trường đủ năng lực điều hành, chỉ đạo thi công các dự án, đặc biệt đối với các dự án lớn, phức tạp, các dự án liên danh, liên kết, dự án do Tổng Công ty làm tổng thầu thi công. Bộ máy lao động gián tiếp được cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động bám sát thực tế sản xuất kinh doanh.
Để tăng năng lực hoạt động, thực hiện chủ trương đa dạng hoá ngành nghề, năm 2007 Công ty thành lập Đội cầu II trên cơ sở đội 2 nguyên là xưởng sửa chữa, tuyển thêm thợ cầu, thợ kích kéo, thợ bê tông bậc cao, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành cầu có năng lực, kinh nghiệm. Những giải pháp đó đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đội cầu II từng bước trưởng thành, nhanh chóng thích ứng công việc mới và được giao đảm nhận thi công nhiều công trình quan trọng, đã thể hiện hướng đi đúng trong chiến lược phát triển lâu dài của đơn vị.
Thời điểm này, Công ty cơ bản giải quyết được khó khăn về vốn, các khoản nợ kéo dài từ nhiều năm trước đã được xử lý, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển ổn định. Đời sống cán bộ, công nhân viên được cải thiện đáng kể, tạo được bầu không khí phấn khởi, tin tưởng, lành mạnh trong toàn đơn vị. Các chế độ đối với người lao động luôn được các cấp uỷ đảng, chính quyền đoàn thể đặc biệt quan tâm. Hàng năm, Công ty tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên đi nghỉ mát, tham quan du lịch các danh lam thắng cảnh trên mọi miền đất nước. Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực lao động trực tiếp, công việc nặng nhọc, độc hại, nên lãnh đạo đơn vị luôn chăm lo, bảo đảm đầy đủ quyền lợi chính đáng cho người lao động, thực hiện tốt Luật Lao động. Công ty luôn chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, cấp phát, trang bị bảo hộ đầy đủ cho người lao động. Nhờ đó, Công ty luôn bảo đảm tốt công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ trong quá trình sản xuất, thi công các công trình, không để xẩy ra tai nạn lao động.
Trong quá trình xây dựng, trưởng thành, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, tạo dựng thương hiệu, xây dựng chiến lược phát triển lâu dài, Công ty xác định việc tham gia các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện là việc làm cần thiết, thể hiện tình cảm, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng xã hội, vừa là một yếu tố gắn liền sự phát triển của đơn vị. Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Lá lành đùm lá rách”, nhiều năm qua, Công ty đã đóng góp vào quĩ “Đền ơn, đáp nghĩa” tặng sổ tiết kiệm, “nhà tình nghĩa” cho Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình thương binh, bệnh binh có hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ Quĩ “vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ em, ủng hộ đồng bào vùng lũ lụt, đóng góp xây dựng, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, khu tưởng niệm liệt sĩ TNXP Truông Bồn..., làm tròn nghĩa vụ với nhân dân nơi đóng quân, tặng thưởng cho các cháu là con em cán bộ công nhân viên có thành tích trong học tập... Chỉ tính riêng trong hai năm 2009-2010, Công ty đã đóng góp làm công tác từ thiện, xã hội trên 400 triệu đồng.
Bên cạnh đó, Công ty cũng tổ chức thực hiện tốt công tác an ninh quốc phòng, hậu phương quân đội, huấn luyện lực lượng tự vệ, làm tốt công tác dân vận nơi đóng quân, nơi đơn vị thi công, nên tạo được sự đồng thuận, giúp đỡ của chính quyền và nhân dân địa phương, được Thành đội Vinh công nhận Đơn vị Quyết thắng nhiều năm liền.
Bước sang năm 2008, Công ty tích cực chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Để việc cổ phần hoá diễn ra đúng luật định, và bảo đảm quyền lợi người lao động, Công ty tiến hành một cách thận trọng các quy trình như việc xác định lại giá trị tài sản cố định, chốt danh sách cán bộ công nhân viên và giải quyết chế độ cho số lao động dôi dư trước thời điểm cổ phần hoá. Nhờ có sự chuẩn bị tốt nên tiến trình cổ phần hoá thực hiện đúng kế hoạch, lộ trình. Sau cổ phần hoá, Công ty đẩy mạnh một bước về sắp xếp bộ máy, rà soát, đánh giá lại năng lực, thiết bị công nghệ hiện có để xây dựng kế hoạch đầu tư mới theo hướng chọn lọc, đồng bộ, hiệu quả. Phát triển công nghệ truyền thống, tiếp cận công nghệ cao, hiện đại, nâng cao trình độ quản lý, điều hành theo chuẩn quốc tế.
Tháng 2 năm 2008 Tổng Công ty điều chuyển đồng chí Đặng Minh Hồng đi làm giám đốc Công ty Công trình giao thông 422, Tiếp đó, tháng 5 đề bạt đồng chí Nguyễn Văn Toàn làm phó giám đốc Công ty đường bộ 471.
Ngày 25 tháng 8 năm 2008, tại Quyết định số 2576/QĐ-BGTVT Bộ Giao thông vận tải phê duyệt phương án chuyển Công ty Đường bộ 471 thành Công ty Cổ phần 471, là Công ty thành viên trong Công ty mẹ - Tổng Công ty xây dựng công trình Giao thông 4.
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, Công ty Cổ phần 471 chính thức đi vào hoạt động theo mô hình cổ phần hoá doanh nghiệp. Đồng chí Nguyễn Quang Vinh được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đồng chí Vương Đình Ngũ, phó chủ tịch HĐQT giữ chức Giám đốc, các đồng chí : Nguyễn Văn Toàn, Mai Anh Đồng, Hoàng Văn Sơn được cử giữ chức vụ Phó giám đốc. Tháng 11 năm 2009, đồng chí Hồ Tuấn Dũng được đề bạt làm Phó giám đốc phụ trách thiết bị, xe máy, vật tư và các công trình phía Nam.
Tháng 4 năm 2009, đồng chí Nguyễn Văn Toàn, được BCH Đảng uỷ Công ty cử giữ chức vụ Bí thư Đảng uỷ thay đồng chí Nguyễn Quang Vinh nhận chức Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty XDCT Giao thông 4.
Như vậy, sau cổ phần hoá, bộ máy lãnh đạo chủ chốt của Công ty đã được kiện toàn và trẻ hoá, đáp ứng yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp. Hệ thống quy chế quản trị, quy chế hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị cũng nhanh chóng được kiện toàn, góp phần đảm bảo sự thống nhất trong quản lý điều hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tuy nhiên, bước đầu hoạt động theo mô hình công ty cổ phần sẽ không tránh khỏi những khó khăn, do công tác tổ chức bộ máy, qui chế hoạt động, sự phối hợp giữa các bộ phận, đơn vị chưa thật nhịp nhàng, đồng bộ; địa bàn thi công rộng, trải dài từ Bắc vào Nam nên khó khăn trong chỉ đạo, điều hành, hạn chế đáng kể việc tận dụng khai thác lợi thế và nguồn lực, thiết bị máy móc. Năm 2009, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và trong nước, đẩy giá vật tư, nhiên liệu tăng đột biến, trong khi đó việc thực thi bù giá theo chế độ Nhà nước, mặc dù đã có hướng dẫn cụ thể nhưng quá trình thực hiện vẫn nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp. Công tác giải phóng mặt bằng một số công trình quá chậm, gây lãng phí và ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thi công công trình.
Nhưng cũng chính trong bối cảnh khó khăn đó, Công ty đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ có hiệu quả của lãnh đạo và các phòng, ban nghiệp vụ của Tổng Công ty, CBCNV biết kế thừa, phát huy truyền thống đơn vị “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”, lại có bề dày kinh nghiệm 40 năm xây dựng, trưởng thành, đội ngũ cán bộ công nhân viên, thợ lành nghề dày dạn kinh nghiệm quản lý, giỏi chuyên môn, năng động, yêu nghề, gắn bó với Công ty, sự đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể, nên Công ty đã có bước phát triển khá nhanh, toàn diện. Năng lực, uy tín của Công ty ngày càng được khẳng định, trở thành một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Thêm vào đó, sự nỗ lực vượt khó, lòng yêu nghề và quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên sau cổ phần hoá đã tạo niềm tin, giúp lãnh đạo Công ty vững tay chèo lái, đưa con thuyền 471 vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất trong chặng đường đầu đổi mới và hội nhập.
Có thể nói, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, với những khó khăn nêu trên, nhưng Công ty không ngừng phát triển, từng bước tạo dựng được thương hiệu trong lĩnh vực xây dựng cầu, đường của ngành giao thông. Kết quả trong 9 năm 2002 – 2010, Công ty đã đạt sản lượng 1666 tỷ đồng (bình quân 185,11 tỷ đồng/năm, trong đó có nhiều công trình, dự án, các tuyến đường trọng điểm trên cả nước để lại dấu ấn tốt đẹp và đáng nhớ như dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh, dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ II đoạn Đền Hùng - Đoan Hùng (Phú Thọ), quốc lộ 279 Tuần Giáo - Điện Biên - Tây Trang, quốc lộ 7 (đoạn Nậm Cắn- Kỳ Sơn), dự án đường phía Tây Nghệ An (gói TNA 3 và TNA 10), quốc lộ 38 (Hà Nam), cảng Vũng Áng giai đoạn II (Hà Tĩnh), quốc lộ 48 kéo dài đoạn Phú Phương - Kim Sơn – Thông Thụ (Nghệ An), đường ven đê sông Lam, quốc lộ 12 (gói 4 bao gồm cầu Hang Tôm), Lai Châu..., lần lượt hoàn thành với chất lượng tốt.
Trong giai đoạn này, Công ty đã đầu tư 77,31 tỷ đồng trong tổng số 103,81 tỷ đồng đầu tư tài sản cố định từ 1985 – 2010; đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật khá hùng hậu, gồm: thạc sĩ : 1 người, đại học : 89 người, cao đẳng : 28 người, trung cấp : 39 người, công nhân kỹ thuật bậc cao 7/7 : 36 người, bậc 6/7 : 46 người trên tổng số 440 cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty, cùng dây chuyền sản xuất đồng bộ, tiên tiến. Công tác quản lý vật tư thiết bị được tăng cường. Các công trình do Công ty xây dựng đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường và được chủ đầu tư đánh giá cao. Việc quyết toán vật tư, nhiên liệu, khấu hao máy móc ở các công trình được thực hiện nghiêm túc.
Để có công trình chuyển tiếp và không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động, ngoài các công trình do Tổng Công ty giao, Công ty có nhiều cố gắng trong tìm kiếm công ăn việc làm. Ngay từ những năm 2002-2003, công tác đấu thầu đã đặc biệt được coi trọng, đến giai đoạn cổ phần hoá càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Ban lãnh đạo Công ty luôn xác định công tác tìm kiếm việc làm khâu then chốt trong chiến lược phát triển doanh nghiệp cũng như bảo đảm kế hoạch sản xuất kinh doanh và đời sống người lao động.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, lãnh đạo Công ty vạch kế hoạch, phân công cụ thể trách nhiệm, vai trò từng cá nhân, các bộ phận liên quan nhằm phát huy tính chủ động. Ngoài những địa bàn truyền thống như Nghệ An, Hà Tĩnh, Công ty tiếp tục mở rộng tìm kiếm việc làm trên phạm vi cả nước như Lai Châu, Bắc Kạn, Bình Phước, Lâm Đồng. Theo đó, thực hiện đa dạng hoá ngành nghề, thi công cầu và các công trình đường sắt...
Tuy nhiên, để thực hiện tốt chữ tín với khách hàng, lãnh đạo Công ty quán triệt chủ trương không thắng thầu bằng mọi giá, để đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Với những công trình tham gia đấu thầu, công tác chuẩn bị đấu thầu được tổ chức kỹ lưỡng, từ việc nghiên cứu hồ sơ mời thầu, khảo sát thực địa mọi mặt, để từ đó đưa ra biện pháp thi công hợp lý, khả thi đảm bảo thắng thầu, vừa có lãi. Với chủ trương đó, riêng năm 2009, Công ty đã thắng thầu 4 công trình với giá trị 323 tỷ đồng, được Tổng Công ty giao thêm 2 công trình trị giá 200 tỉ đồng, đảm bảo việc làm cho người lao động.
Để triển khai thực hiện các dự án có chất lượng, đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật, khi có công trình, các phòng ban, nhất là phòng Kỹ thuật, Kinh doanh, Vật tư, Thiết bị cùng phối hợp chặt chẽ với đơn vị sản xuất triển khai, lập kế hoạch tiến độ cụ thể. Chú trọng và tập trung điều hành thi công nhanh đảm bảo tiến độ, chất lượng tạo được uy tín ngay từ đầu với chủ đầu tư. Ngoài ra Công ty sẵn sàng hợp tác, hỗ trợ các đơn vị bạn khi chủ đầu tư có yêu cầu để đảm bảo tiến độ chung của dự án. Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tuỳ theo loại hình, tính chất công việc, Công ty tiến hành khoán gọn cho các đội, nhưng vẫn chỉ đạo chuyên môn hướng dẫn chi tiết, đồng thời tiến hành kiểm tra, giám sát và quyết toán khoán. Tăng cường lực lượng cán bộ kỹ thuật đoạn, kỹ thuật đội và có chế độ khuyến khích đối với cán bộ hiện trường, tạo điều cho cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề đi tham quan học hỏi, tập huấn công nghệ mới, nhất là công nghệ thi công móng cấp phối đá dăm, xử lý nền đường đất yếu bằng bấc thấm, cọc cát, vải địa kỹ thuật, bê tông nhựa nóng, cọc khoan nhồi...Đặc biệt từ năm 2007 đến nay, Công ty chú trọng đầu tư, tiếp nhận công nghệ thi công cầu nhỏ, vừa. Công ty đã hoàn thiện qui chế quản lý chất lượng, định mức phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000, bởi, yếu tố làm nên thành công chính là sự đảm bảo chất lượng và tiến độ xây dựng những công trình, cho dù chủ đầu tư đòi hỏi khắt khe đến mấy.
Nhằm tạo sự bứt phá trong việc chiếm lĩnh thị phần trên thị trường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, Ban Giám đốc Công ty xác định đa dạng hoá các loại hình sản xuất, vừa nhận thầu thi công các công trình giao thông, các cầu nhỏ và đường, phù hợp năng lực Công ty và có tính khả thi cao. Theo đó, giải pháp được đưa ra là: Tiếp tục củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức các phòng nghiệp vụ, các ban điều hành, các đội sản xuất và bộ phận trực thuộc. Bố trí đủ cán bộ chủ chốt có năng lực, đảm bảo chỉ đạo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thúc đẩy công tác nghiệm thu, hoàn công, quyết toán công trình; tích cực liên hệ với các chủ đầu tư, ban, ngành liên quan để xúc tiến nhanh việc thanh toán, thu hồi công nợ.
Tuy nhiên, thời kỳ mới của Công ty thực sự bắt đầu từ việc thay đổi về nhận thức, nếp nghĩ, phong cách làm việc của CBCNV, cùng với một cơ chế thích hợp, hiệu quả. Để trở thành đơn vị có tên tuổi, có thương hiệu trong ngành xây dựng, không thể không nhắc đến vai trò lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Ban lãnh đạo Công ty, trong đó, vai trò của đồng chí giám đốc trong việc tập hợp, đoàn kết thống nhất, cộng sự, tạo sức mạnh chung của cả tập thể, đặc biệt là tinh thần trách nhiệm, cộng sự của tập thể lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, đến lãnh đạo các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ và các đội sản xuất.
Lãnh đạo Công ty đặc biệt quan tâm việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đảm bảo đội ngũ cán bộ cốt cán, kỹ sư, đến tất cả công nhân kỹ thuật, người lao động đều có khả năng làm chủ công nghệ, biết tổ chức sản xuất một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả, xây dựng mô hình quản lý năng động, hiện đại, biết tiết kiệm tối đa nguồn vốn đầu tư, thời gian lao động và nhân công trong một đơn vị sản phẩm. Đối với đội ngũ cán bộ chỉ huy công trường, Công ty đặc biệt chú ý đào tạo để họ giỏi về chuyên môn, đảm bảo sự vận hành của hệ thống chỉ huy công trường được quản lý một cách khoa học, bài bản. Sự phân công công việc và giao quyền trách nhiệm rạch ròi. Các kỹ sư, công nhân kỹ thuật, các tổ đội thi công trực tiếp tại các công trình đều được đào tạo, quản lý điều hành theo đúng hệ thống quản lý ISO 9001-2000. Hằng năm Công ty liên tục cử cán bộ tham gia các chương trình đào tạo lại và bổ túc thêm kiến thức công nghệ mới.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông ngày 06 tháng 12 năm 2008, Công ty ban hành “Điều lệ Công ty Cổ phần 471”, nhằm quán triệt và khẳng định mục tiêu, phạm vi kinh doanh và hoạt động, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ công nhân viên trong giai đoạn mới. Các hoạt động đoàn thể cũng được đưa vào bộ qui chế của cơ quan. Công đoàn, Ban Giám đốc Công ty ký thoả ước lao động tập thể, qui định rõ quyền lợi, trách nhiệm của người lao động, đảm bảo cho họ được bảo hiểm thân thể 24/24 h, được khám sức khoẻ định kỳ, phụ cấp ăn trưa, phụ cấp công trường, để người lao động yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với Công ty.
Ngay sau khi chuyển đổi thành Công ty Cổ phần, mục tiêu hành động việc làm và đời sống người lao động càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Lãnh đạo Công ty đã năng động tìm kiếm việc làm, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình... Cùng với việc sắp xếp lại tổ chức biên chế hợp lý, Công ty tập trung đầu tư mới thiết bị, áp dụng sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, không ngừng nâng cao chất lượng v.v...Để công ty phát triển mạnh đồng đều, những đơn vị yếu được sáp nhập vào các đơn vị mạnh, những cán bộ có kinh nghiệm quản lý, điều hành dự án được điều động giữ các vị trí chủ chốt. Chỉ trong thời gian ngắn thực hiện cơ chế mới của loại hình doanh nghiệp cổ phần, Công ty đã từng bước khắc phục khó khăn, hoàn thành hầu hết các công trình lớn đảm bảo chất lượng và tiến độ, tiêu biểu như công trình cải tạo, nâng cấp quốc lộ II đoạn Đền Hùng - Đoan Hùng ( Phú Thọ), quốc lộ III Thái Nguyên - Bắc Kạn (gói thầu 3 và 4), quốc lộ 279 Tuần Giáo - Điện Biên - Tây Trang...
Đặc biệt, những năm gần đây, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng khoảng tài chính toàn cầu, giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng không ngừng tăng...nhưng với cách quản lý, điều hành mới, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, Công ty vẫn đứng vững, và làm ăn có lãi.
Ngay những năm đầu tiên cổ phần hoá, Công ty đã thực hiện trả cổ tức 20%/năm. Năm 2010, tiếp tục trúng thầu và triển khai nhiều công trình mới trên cả 3 miền đất nước như:
- Dự án quốc lộ 3B (Xuất Hoá - cửa khẩu Pò Mã), gói thầu 16, trị giá : 50,079 tỷ đồng.
- Tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân :
+ Nền đường sắt Lim - Nam Sơn, (gói thầu số 1): 164,276 tỷ đồng.
+ Nền đường sắt Phả Lại - Cổ Thành, (gói thầu sô 4): 60,909 tỷ đồng.
- Đường cao tốc Cầu Dẽ - Ninh Bình, gói 3.1: 30,789 tỷ đồng
- Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, gói thầu EX 7 158, 872 tỷ đồng
- Dự án nâng cấp quốc lộ 27 (Ninh Thuận): 60,095 tỷ đồng
Để đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án, tháng 3 năm 2010, Công ty thành lập Công trường quốc lộ 7, thi công gói thầu số 3 đoạn Diễn Châu - Đô Lương thuộc dự án nâng cấp quốc lộ 7A với giá trị 37.033 tỷ đồng, do đồng chí Lê Ngọc Hà làm chỉ huy trưởng. Tháng 01 năm 2011, Công ty tiếp tục thành lập Công trường quốc lộ 25 với tổng giá trị 50, 2 tỷ đồng, do đồng chí Vũ Hồng Trung làm chỉ huy trưởng thi công gói thầu số 5 dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 25 (Phú Yên-Gia).
Với tinh thần thi đua lao động sáng tạo, đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật trong Công ty đều tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, góp phần quan trọng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả các công trình. Năng lực, uy tín của Công ty ngày càng được khẳng định, xứng đáng là một trong những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả của Tổng Công ty.
Với chặng đường 40 năm, qua bao thăng trầm lịch sử, bao lần sáp nhập và đổi thay tên gọi, bao lần vất vả di chuyển địa điểm vị trí cơ quan, cho đến hôm nay, Công ty mới thực sự “an cư” tại phường Đội Cung- Thành phố Vinh. Đó là, ngày 22 tháng 01 năm 2011, Công ty đã tổ chức khởi công xây dựng trụ sở làm việc mới 6 tầng hiện đại, khang trang, với kinh phí khoảng 15 tỷ đồng. Dự kiến năm 2013, công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo đà cho bước phát triển mới, bền vững.
Giai đoạn từ 2002 – 2011 tuy gặp nhiều khó khăn, thử thách do sức ép cạnh tranh, giá cả vật tư hàng hoá tăng, cơ chế quản lý thay đổi sau khi sắp xếp lại doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hoá..., song, có thể khẳng định đây là một giai đoạn phát triển rực rỡ, huy hoàng nhất của Công ty. Cũng giai đoạn này, tập thể Công ty Cổ phần 471 và nhiều cá nhân của đơn vị đã được nhận nhiều phần thưởng cao quý:
Về tập thể :
- Cờ Đơn vị thi đua xuất sắc của Bộ trưởng GTVT tặng tập thể CBCNV Công ty (2004 – 2005 – 2006 – 2008 - 2010)
- Bằng khen của Bộ trưởng GTVT tặng tập thể CBCNV Công ty (2007, 2009).
- Bằng khen của Tỉnh uỷ Nghệ An tặng tập thể tiêu biểu trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (2009)
- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GTVT tặng tập thể CBCNV Công ty vì có nhiều thành tích trong phong trào thi đua giai đoạn 2005-2009, 2010.
- Huân chương Độc lập hạng Ba của Chủ tịch nước (2010)
- Cờ Thi đua của Tỉnh uỷ tặng TCCS Đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm liền (2006-2010).
- Công đoàn Công ty từ 2001 đến nay liên tục đạt danh hiệu Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc của Công đoàn Tổng Công ty. Năm 2009 được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng bằng khen.
- Đoàn Thanh niên Công ty nhiều năm liền được xếp loại đoàn cơ sở xuất sắc của Đoàn Thanh niên Tổng Công ty Công trình Giao thông 4.
Về cá nhân :
- 2 Huân chương Lao động Hạng Ba (năm 2010) cho các đồng chí :
+ Nguyễn Quang Vinh, Phó TGĐ kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
+ Vương Đình Ngũ, Phó Chủ tịch HĐQT - Giám đốc Công ty.
Những con số sau đây sẽ minh chứng cho sự thành công, phát triển của Công ty trong sản xuất kinh doanh giai đoạn 2000-2010 :
Sản lượng xây lắp 2000 - 2010 Doanh thu 2000 - 2010
năm
Giá trị (triệu đồng)

năm
Giá trị (triệu đồng)
2000
97

2000
83,369
2001
110

2001
114,479
2002
114

2002
84,7
2003
127
7
2003
114,128
2004
144

2004
105,374
2005
167

2005
145,178
2006
174

2006
139,594
2007
187

2007
150,082
2008
195

2008
185,096
2009
270

2009
252
2010
287,96

2010
261,7




(trừ lại để vẽ 2 biểu đồ)




Với những kết quả và thành tích nêu trên, Công ty Cổ phần 471 vinh dự luôn được bầu chọn là đơn vị dẫn đầu trong phong trào thi đua của Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông 4. Thành quả và vinh dự đó, đã đặt lên vai Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên Công ty trách nhiệm càng nặng nề hơn ở giai đoạn phát triển tiếp theo, để đơn vị không ngừng phát triển, giữ vững thương hiệu trong bối cảnh có nhiều khó khăn, vừa có sự cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực xây dựng giao thông.
2, Định hướng, giải pháp chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2016.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là trong xu thế hội nhập, phát triển, chất lượng các công trình giao thông ngày càng đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật, công nghệ, để đảm bảo xây dựng những công trình hiện đại, tầm cỡ. Trước yêu cầu đó, không cho phép Công ty thoả mãn với những gì đã đạt được, mà phải tiếp tục phấn đấu nỗ lực vươn lên, nắm bắt, làm chủ công nghệ tiên tiến đủ sức đảm đương thi công những công trình hiện đại không chỉ ở trong nước, mà còn phải vươn xa hơn với cả các công trình ở nước ngoài. Đó là mục tiêu quan trọng, nhưng rất thiết thực, đòi hỏi mỗi cán bộ, công nhân viên phải trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, yêu nghề, gắn bó trách nhiệm với Công ty, quyết tâm đưa đơn vị vươn tới đỉnh cao trong lĩnh vực xây dựng.
Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, có rất nhiều việc phải làm, nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, song, lãnh đạo Công ty xác định :
Thứ nhất, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên, là việc làm có tính cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài. Theo đó, thực hiện sắp xếp, tổ chức bộ máy quản lý, phân loại, đánh giá, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Có chính sách thu hút cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật lành nghề, thợ bậc cao. Hoàn thành quy hoạch cán bộ nguồn cho các chức danh lãnh đạo chủ chốt và bộ máy quản lý cấp phòng, ban, đơn vị giai đoạn 2011-2016. Xây dựng kế hoạch cử đi học các lớp về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho số cán bộ thuộc nguồn quy hoạch để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc được giao.
Nhiệm vụ quan trọng tiếp theo là từng bước hoàn thiện, làm chủ công nghệ thi công cầu, hầm.
Ý thức được việc quản lý sản xuất kinh doanh là yếu tố quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp, lãnh đạo Công ty tập trung chỉ đạo khai thác triệt để mọi nguồn lực, khả năng hiện có, thực hiện đa ngành, đa nghề, mở rộng thị phần, địa bàn hoạt động, làm chủ công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất trong trong lĩnh vực xây dựng. Trước mắt, để giữ vững nhịp độ tăng trưởng, Công ty xác định phải tăng cường và đổi mới công tác quản lý, giữ vững ngành nghề truyền thống.
Tăng cường ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới vào thi công : Giai đoạn từ 2011-2015 và những năm tiếp theo, Công ty sẽ mở rộng và mạnh dạn đầu tư vào các công nghệ tiên tiến mũi nhọn, có tính bứt phá, phấn đấu từng bước hoàn thiện, làm chủ công nghệ thi công cầu – hầm, cụ thể :
- Làm chủ công nghệ thi công dầm hộp theo phương pháp đúc đẩy, công nghệ khoan nhồi đường kính 1,5 ~ 2 m;
- Công nghệ thi công dầm Super T;
- Công nghệ thi công dầm hộp BTCT ứng suất trước có mặt cắt ngang chữ T khẩu độ 18 ~ 42 m theo phương pháp tạo ứng suất trước và sau;
- Công nghệ thi công dầm hộp BTCT bản rộng khẩu độ 6~ 20 m căng kéo trước trên bệ căng không cố định, lắp ghép;
- Công nghệ thi công cầu dây văng, cầu treo khẩu độ nhỏ;
Ngoài ra, tiếp tục hoàn thiện công nghệ gia cố, xử lý nền đất yếu sử dụng bấc thấm kết hợp vải địa kỹ thuật, bấc thấm, cọc cát, đường ô tô cấp cao; ứng dụng công nghệ kiên cố hoá mái taluy chống sụt trượt bằng neo OVM của Trung Quốc.
Về kết quả sản xuất kinh doanh: Dự kiến giá trị sản lượng hàng năm tăng từ 10% trở lên theo lộ trình : từ sau năm 2011 > 400 tỉ, với tỷ lệ cầu/đường bằng 50/50, doanh thu đạt 85% giá trị sản lượng, lợi nhuận sau thuế tăng từ 10% trở lên...
Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận và lường trước một thực tế đầy khó khăn trước mắt. Đó là tình hình kinh tế thế giới và trong nước năm 2011 đang biến động xấu và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Do tình trạng gíá cả các mặt hàng và lạm phát tăng cao, nhà nước cắt giảm vốn đầu tư, hoặc tạm ngừng thi công ở một số công trình xét thấy chưa thật cần thiết hoặc ít hiệu quả để tập trung vốn cho những công trình trọng điểm. Ngay từ quí I năm 2011 Công ty cũng đang trong tình cảnh đó. Đây thực sự là một thách thức lớn, một bài toán khó chưa có lời giải nhất là trong bối cảnh như hiện nay khi thị trường tài chính không mấy sáng sủa, việc làm cho người lao động đây đó vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và biến động khôn lường.

***
Nhìn lại chặng đường phấn đấu đầy gian khổ suốt bốn mươi năm, với chiến lược phát triển đồng bộ, có chiều sâu, với sự nỗ lực, tự tin và những bước đi đầy sáng tạo, Công ty Cổ phần 471 đã và đang không ngừng đổi mới, phát triển toàn diện, bền vững, trở thành một trong những đơn vị xuất sắc nhất của ngành giao thông vận tải nước nhà.
Có được kết quả trên là nhờ đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của các cấp bộ, ngành trung ương, của các địa phương đơn vị đóng quân, đặc biệt là sự giúp đỡ, chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 4, sự giúp đỡ của các cấp, các ban, ngành chính quyền và nhân dân địa phương, sự hợp tác hiệu quả của các đơn vị bạn, sự đoàn kết gắn bó, phát huy nội lực của Công ty và sự năng động, sáng tạo, tinh thần vượt khó của tập thể lãnh đạo, công sức trí tuệ của người lao động...
Bốn mươi năm, hơn bao hết các thế hệ cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần 471 vinh dự, và rất đỗi tự hào với truyền thống đơn vị anh hùng và những danh hiệu cao quí khác mà Đảng, Nhà nước trao tặng.
Dẫu phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức, song, với bề dày truyền thống và thành tựu của Công ty 40 năm qua được xây nên bằng mồ hôi, nước mắt, và cả máu đào của các liệt sĩ, bằng sự hy sinh một phần cơ thể của các anh chị thương binh, bệnh binh trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, chúng ta, thế hệ CBCNV hôm nay và mai sau nguyện tiếp tục phấn đấu, xây dựng Công ty ngày càng vững mạnh, xứng đáng với sự hy sinh, đóng góp sức lực, trí tuệ của các thế hệ CBCNV đi trước.
Tin rằng, với tình cảm và trách nhiệm, với năng lực, trình độ, sự tâm huyết, yêu nghề của tất cả mỗi CBCNV, Công ty Cổ phần 471 tiếp tục phát triển vững vàng, tiếp tục toả sáng trên những công trình của Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của quê hương, đất nước.




PHIÊN HIỆU, LÃNH ĐẠO CÔNG TY QUA CÁC THỜI KỲ
I. Phiên hiệu:
1. Giai đoạn từ tháng 5/1971 – 5/1973:
- Tên đơn vị: Công trường 71C
- Trụ sở: Xã Hương Phú, Hương Khê, Hà Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: Cục Công trình
- Chỉ huy trưởng Công trường: Trần Kinh
2. Giai đoạn từ tháng 6/1973 – 6/1974:
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Đức Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh
- Cơ quan chủ quản : Cục Công trình
- Chủ nhiệm Công ty: Lê Văn Viết

 


3. Từ tháng 7/1974 – 3/1978:
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Vinh Hưng, TP Vinh, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: XN Liên hợp Công trình I
- Chủ nhiệm Công ty: Lê Văn Phảng
4. Từ tháng 4/1978 – 10/1978:
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Vinh Hưng, TP Vinh, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: XN Liên hợp Công trình I
- Q. Chủ nhiệm Công ty: Trần Hữu Lam
5. Từ tháng 11/1978 – 8/1979:
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Xuân Viên, Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: XN Liên hợp Công trình I
- Chủ nhiệm Công ty: Nguyễn Cảnh Chương

6. Từ tháng 9/1979 – 12/1980:
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Xuân Viên, Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: XN Liên hợp Công trình I
- Chủ nhiệm Công ty: Trần Quốc Dần
7. Từ tháng 12/1980– 11/1982 :
- Tên đơn vị: Công ty Đường 771
- Trụ sở: Xã Xuân Viên, Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: XN Liên hợp Công trình I
(từ tháng 11/1982 đổi tên thành Liên hiệp các Xí nghiệp XDCTGT Khu vực 4)
- Q. Chủ nhiệm Công ty: Lữ Trọng Tân
8. Từ tháng 12/1982 – 8/1983:
- Tên đơn vị: Xí nghiệp Đường bộ 471
- Trụ sở: Vinh Hưng, T.P Vinh, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các XN XD
CTGT Khu vực 4
- Q.Giám đốc xí nghiệp: Dương Danh Dũng

 


9. Từ tháng 12/1982 – 3/1991:
- Từ 12/1982 – 8/1983: đồng chí Dương Danh Dũng điều hành Công ty
- Tên đơn vị: Xí nghiệp Đường bộ 471
- Trụ sở: Vinh Hưng, T.P Vinh, Nghệ Tĩnh
- Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các XN XD
CTGT Khu vực 4
- Giám đốc xí nghiệp: Bùi Ngọc Trân

10. Từ tháng 4/1991 – 4/1996 :

- Tên đơn vị: Công ty Đường bộ 471
- Trụ sở: P. Đội Cung, T.P Vinh, Nghệ An
- Cơ quan chủ quản: Tổng Công ty XDCTMT
- Giám đốc Công ty: Trần Đức Huy
(từ 01-01- 1995 là Phó TGĐ kiêm)

(Từ tháng 12/1991, đổi tên thành Tổng CT XDCT miền Trung; từ 12/1995 đổi tên thành Tổng Công Ty XDCT GT 4)


11. Từ tháng 5/1996 – 4/1999:
- Tên đơn vị: Công ty Đường bộ 471
- Trụ sở: P. Đội Cung, T.P Vinh, Nghệ An
- Cơ quan chủ quản: Tổng Công ty XDCTGT 4
- Giám đốc Công ty: Nguyễn Hữu Long

12. Từ tháng 4/1999 – 2/2004:
- Tên đơn vị: Công ty Đường bộ 471
- Trụ sở: P. Đội Cung, T.P Vinh, Nghệ An
- Cơ quan chủ quản: Tổng Công ty XDCTGT 4
- Giám đốc Công ty: Trần Văn Chín

13. Từ tháng 2/2004 – 12/2008:
- Tên đơn vị: Công ty Đường bộ 471
- Trụ sở: P. Đội Cung, T.P Vinh, Nghệ An
- Cơ quan chủ quản: Tổng Công ty XDCTGT 4
- Giám đốc Công ty: Nguyễn Quang Vinh

14. Từ ngày 01-01- 2009 đến nay:
- Tên đơn vị: Công ty Cổ phần 471
- Trụ sở: P. Đội Cung, T.P Vinh, Nghệ An
- Cơ quan chủ quản: Tổng Công ty XDCTGT 4
- Chủ tịch HĐQT: Nguyễn Quang Vinh
- Giám đốc Công ty: Vương Đình Ngũ
BÍ THƯ ĐẢNG UỶ QUA CÁC THỜI KỲ
1. Từ tháng 5/1971 – 5/1973
LÊ VĂN PHÚ

 


2. Từ tháng 6/1973 – 10/1975:
NGUYỄN VĂN KHOA

 


3. Từ tháng 10/1975 – 10/1978:
VÕ KHANG HY
4. Từ tháng 10/1978 – 11/1989:
NGUYỄN XUÂN DƯƠNG
5. Từ tháng 11/1989 – 10/1994:
TRẦN NGỌC HOÀN
6. Từ tháng 10/1994 – 9/2008:
VŨ HÀO

7. Từ tháng 9/2008 – 4/2009:
NGUYỄN QUANG VINH
8. Từ tháng 4/2009 đến nay:
NGUYỄN VĂN TOÀN

 



















MỘT SỐ DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH LỚN ĐÃ VÀ ĐANG THI CÔNG
a. Các công trình, dự án đã thi công, bàn giao đưa vào sử dụng :
- Đường 71, đường sắt Thống nhất Bắc Nam: năm 1977
- Đường Quán Bánh – Cửa Lò: năm 1984
- Đường 2 đầu Cầu Cấm, kênh Nhà Lê: năm 1975
- Dự án cải tạo, nâng cấp Cảng Cửa Lò: năm 1985
- Dự án cải tạo, nâng cấp đường, kho bãi cảng Bến Thuỷ: năm 1980
- Dự án cải tạo, nâng cấp Cảng Nhật Lệ: năm 1977
- Sân bay Sao Vàng: năm 1984
- Dự án đường sắt vào Nhà máy XM Bỉm Sơn (Thanh Hoá): năm 1984
- Đường Nam cầu Ghép (Thanh Hoá): năm 1984
- Nâng cấp QL 1A Km309 – Km315 (Lưu Vệ), Quảng Xương (Thanh Hoá)
- Nâng cấp QL 1A đoạn Nghĩa Trang (Thanh Hoá): năm 1988
QL 46, đường lên quê Bác Hồ: năm 1990
- Đường vào Nhà máy xi măng Nghi Sơn: năm 1998
- Đường vào Nhà máy xi măng Hoàng Mai: năm 1997
- Đại lộ 3-2 (nay là đại lộ Lê nin) TP Vinh, Nghệ An: năm 1998
- Nâng cấp QL 1A đoạn Vinh - Đông Hà: năm 2001
- Dự án cải tạo, nâng cấp QL 8 A (Hà Tĩnh): năm 1990
- Dự án cải tạo nâng cấp QL 9A (Quảng Trị): năm 1998
- Dự án cải tạo, nâng cấp QL 46: năm 2003
- Dự án đường Hồ Chí Minh, đường về Quê Bác: năm 2004
- Bến phà Gianh, đường đầu cầu Quán Hàu ( Quảng Bình): năm 1998
- Dự án xây dựng cầu Bến Thủy: năm 1990
- Dự án đường GTNT Yên - Đà Sơn, Hồng Hải (Nghệ An): năm 1998
- Dự án QL 24 (Kon Tum): năm 1997
- QL 51 (Bà Rịa – Vũng Tàu): năm 2002
- Dự án nâng cấp QL 54 (Vĩnh Long): năm 2002
- Đường vào cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế): năm 1998
- Đường, bãi, Cảng Dung Quất (Quảng Ngãi): năm 1998
- Dự án 4 cầu Lăng Cô, Sư Lỗ (Tam Kỳ): năm 1998
- TL 538, QL 48 kéo dài Kim Sơn – Phú Phương – Thông Thụ: năm 2007
- Dự án nâng cấp QL 7 đoạn Khe Thơi – Nậm Cắn, gói 1: năm 2006
- Dự án cải tạo, nâng cấp QL 1A, đoạn Hải Lăng (Quảng Trị): năm 2000
- Dự án mở rộng QL 1A đoạn qua thị trấn Tứ Hạ (TP Huế): năm 2005
- Đường tránh thành phố Vinh (Nghệ An): năm 2006
- Dự án nâng cấp, mở rộng QL 38 (Hà Nam): năm 2004
- Dự án xây dựng, nâng cấp cảng Vũng Áng giai đoạn I, II – 1998: năm 2010
- QL 12, đường nối cảng Vũng Áng đến biên giới Việt Lào: năm 2009
- Dự án đường tránh thành phố Huế: năm 2005
- Đường ven sông Lam (Nghệ An): năm 2007
- Đường Phước Tân – Bãi Ngà (Phú Yên): năm 2005
- Dự án đoạn nối QL 1A với đường Trần Phú (T.P Nha Trang): năm 2010
- Dư án cải tạo, nâng cấp QL II (Phú Thọ): năm 2009
- Dự án nâng cấp QL III đoạn Bờ Đậu–Thuỷ Khẩu: năm 2005
- Dự án nâng ấp QL III (Bắc Kạn – Cao Bằng) gói thầu 3 và 4: năm 2010
- Các dự án đường Hồ Chí Minh: năm 2001; 2010
- Dự án nâng cấp QL 279 Tuần Giáo - Điện Biên – Tây Trang: năm 2010
- Dự án đầu tư QL 12, gói thầu số 4 (Lai Châu): năm 2010
- Đường cao tốc Cầu Dẽ – Ninh Bình (gói 3.1): năm 2010
- Đường nối mỏ sắt Thạch Khê - QL 1A: năm 2010
Các công trình trên đều đạt chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật, tiến độ, phát huy hiệu quả tốt, được chủ đầu tư đánh giá cao.
b. Công trình đang thi công và sẽ thi công:
- Dự án tuyến phía Tây Nghệ An (gói TNA 3): năm 2011
- Dự án đầu tư xây dựng QL 279 đoạn nối QL3 với QL 2 (Bắc Cạn): năm 2012
- Nền Đường sắt Yên Viên - Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, (gói 1, và 4): năm 2012
- Dự án xây dựng cầu Nhật Tân: năm 2011
- Dự án xây dựng cầu Bến Thủy II – Gói thầu 3.1 B (phần đường dẫn phía Bắc cầu và trạm bơm): năm 2012
- Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (gói EX 7): năm 2011
- Đường ven biển Xuân Hội – Thạch Khê – Cảng Vũng Áng: năm 2011
- Dự án QL 27, gói thầu số 3 và 4 (Ninh Thuận): năm 2011
- Dự án cải tạo, nâng cấp QL 25, gói thầu số 5 (Phú Yên): 2012
- Dự án xây dựng nền, mặt đường QLQL 7A, gói thầu XL3 (đoạn Diễn Châu - Đô Lương): năm 2012
- Dự án cải tạo QL 3B đoạn Xuất Hoá - cửa khẩu Pò Mã (Bắc Kạn): năm 2012


BẢNG VÀNG THÀNH TÍCH
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân:
- Tập thể tổ Gạt 1, đội cơ giớ 9 (năm 1973)
Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới:
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Đường bộ 471
Huân chương Lao động hạng Nhất:
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Đường bộ 471 (năm 2000)
Huân chương Lao động hạng Hai:
- Tập thể cán bộ công nhân viên Xí nghiệp Đường bộ 471 (năm 1985)
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Đường bộ 471 (năm 2000)
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần 471 (năm 2010)
- 02 cá nhân Công ty Cổ phần 471 (năm 2010)
Huân chương Lao động hạng Ba:
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty đường 771 (năm 1976)
- 2 cá nhân
Huân chương Kháng chiến hạng Ba:
- Tập thể cán bộ công nhân viên đội Cơ giới 9 (năm 1973)
- 1 cá nhân
Huân chương Độc lập hạng Ba:
- Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Đường bộ 471
Cờ Thi đua luân lưu của Chính phủ:
- Tập thể cán bộ Công ty Đường bộ 471 (2)
Cờ Thi đua xuất sắc của Chính phủ:
- Tập thể cán bộ Công ty Đường bộ 471 (2)
Cờ Thi đua xuất sắc của Bộ Giao thông Vận tải:
- Tập thể cán bộ Công ty Đường bộ 471 (4)
Bằng khen của Bộ trưởng Giao thông Vận tải:
- Tập thể cán bộ Công ty Đường bộ 471
Đảng bộ Công ty từ năm 2004 - 2005 được xếp Trong sạch vững mạnh, từ năm 2006 - 2009 được xếp danh hiệu Trong sạch vững mạnh tiêu biểu.
Công đoàn Công ty từ năm 2001 đến nay, đạt danh hiệu CĐ cơ sở vững mạnh xuất sắc. Năm 2009 được Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng bằng khen.
Đoàn Thanh niên Công ty nhiều năm liền được xếp loại là đoàn cơ sở xuất sắc của Tổng Công ty XDCTGT 4.
ĐÔI ĐIỀU NHỚ LẠI
Kính tặng cán bộ công nhân viên Công ty 471
Dương Danh Dũng
Nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty XDCTGT 4

Tôi về Công ty 471 trong thời kỳ khốn khó, đó là trận lũ lịch sử 100 năm có một, tràn vào cuối năm 1978 vào lúc Công ty vừa sáp nhập với Đoàn cơ giới 813 ở Lào về. Người ta đã vội bỏ trụ sở ở Đội Cung thành Vinh sang “đóng đô” men Quốc lộ 18 sau chân núi Hồng Lĩnh heo hút gió lùa, để rồi cứ mỗi lần đi làm qua phà Bến Thuỷ lại vạn lần cơ cực.
Vào thời gian đó, cả nước chợt bừng tỉnh và bàng hoàng sau niềm vui tột bậc là thống nhất đất nước và thông đường tàu Thống Nhất Bắc-Nam. Vẫn là cơ chế bao cấp, nhưng nhà nước không có đủ vốn đầu tư công trình, công nhân không có việc làm. Đói. Thực hiện chính sách tự trang trải, có nghĩa Công ty kiếm được việc gì thì làm việc nấy: từ nung vôi đốt gạch để bán, đến mở trại tăng gia trồng khoai, nuôi trâu bò ở Kỳ Anh, hoặc lên Nghĩa Đàn, vào Hương Khê, xuống Nghi Hải làm đập thuỷ lợi, san đất, đào âu thuyền... để đổi sắn, khoai, ngô, thóc hay bất cứ vật gì có giá. Thời kỳ đó có thể bỏ ra vài tấn xăng vào tận Tây Nam bộ mua vài tấn gạo, hoặc đánh một chuyến xe lên mạn ngược bắt vài con lợn còi cọc dăm ba chục cân. Công ty cũng đã chịu khó đầu tư xe bò lốp thay cho xe bò Maz. Đó là những năm tháng con người phải chịu nhiều gian nan vất vả, thiếu thốn trăm bề. Công nhân có thể về lo tự túc, từ bóc lạc gia công cho thương nghiệp, lại đến chằm nón. Đến tháng 02 năm 1979, Nhà nước quyết định xây dựng sân bay quân sự cấp I ở Thọ Xuân, Thanh Hoá. Cũng may nhờ có việc xây dựng sân bay Sao Vàng mà gần 4 vạn mét khối đá bị ứ đọng ở Trường Lâm, Tĩnh Gia được bán hết, đồng thời các thiết bị cơ giới của Công ty mới được đưa ra sử dụng cùng kiến thức kỹ thuật. Và sau 5 năm (1979-1983), Công ty khá ổn định vì có việc làm và đã là một đơn vị mạnh trong xây dựng sân bay này. Khi điều hành kinh tế đi lên, cứ mỗi tháng lương lại có một tháng thưởng. Tôi cảm ơn “Quỳnh lác” - Trưởng phòng Kế hoạch và Trần Đức Huy Trưởng phòng Kỹ thuật đã phối hợp rất ăn ý.
Kỉ niệm khó quên nhất, ấy là việc tôi bán trụ sở Công ty ở Hồng Lĩnh cho Tiểu đoàn Đặc công 31 và đưa Công ty trở lại Đội Cung hôm nay. Vì việc này mà Đảng uỷ Liên hiệp đặt vấn đề kỉ luật, kế toán trưởng Đặng Đình Tiêu đòi truy tố và ông Nguyễn Văn Vịnh lúc này đã ra làm Thứ trưởng vẫn quay lại oán trách:“mày phá tao”. Thật may nhờ trời và ông Nguyễn Đức Kiến mới lên làm Tổng giám đốc ngầm ủng hộ, nếu không tôi cũng đã toi đời.
Việc di chuyển Công ty vượt sông Lam về thành phố tôi dự kiến phải mất một tuần. Nào ngờ vừa phát lệnh chỉ sau 2 tiếng đồng hồ, Phó giám đốc Lâm Văn Hợi và chú Thành điều độ đã chuyển xong toàn bộ cơ quan. Thật lạ kỳ, thì ra việc về Vinh không phải là ý chí của tôi mà là nguyện vọng thiết tha của toàn thể cơ quan cán bộ công viên ở đây.
Bài học có tính đột phá, xé rào này qua đi đã cho tôi kinh nghiệm quí khi điều hành 471, 479 hay Tổng Công ty sau này.
Kể từ ngày về 471, ba mươi năm trôi qua, Công ty đã lớn mạnh, bao thế hệ con người đã đổi thay, tôi vẫn không sao quên được từng gương mặt, đức tính, tình cảm của con người 471 như Nguyễn Cảnh Chương, Trần Quốc Dần, “Quỳnh lác”, Trần Đức Huy... và cả hàng chục chị em mỏ đá Trường Lâm níu tôi mà khóc khi tôi rời Công ty này.
Tôi viết những dòng sau tặng cho những người tôi quý trọng.
















Lời BBT : Dương Danh Dũng, sinh năm 1948, quê xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty XDCT GT 4, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Anh làm thơ từ những năm đầu chống Mỹ và viết khá đều đặn. Đến nay anh đã có 6 tập thơ in riêng trình làng, 13 tập in chung và tuyển.
Từng được giải thưởng về thơ lục bát, giải Ba thơ tình Báo Văn Nghệ, giải Nhì thơ “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long„...
Thơ anh bắt rễ từ chính cuộc đời nên mang vẻ đẹp riêng, đậm dấu ấn triết lý thể hiện sự từng trải. Là người luôn tiếp xúc với những người thợ cầu, đường và với anh, họ thân thương quá đỗi. Thơ anh tuy không không trực tiếp viết về những con đường đang mở, về những cây cầu đang xây nhưng anh lại dùng nó làm điểm tựa để tạo cho mình cảm xúc về đất nước, về thiên nhiên và những suy ngẫm về thời cuộc.
Có lẽ vì thế, mà thơ anh đã như dòng chảy liên tục, cần mẫn và tự cất cánh bay lên...
Nhân bốn mươi năm, ngày thành lập Công ty Cổ phần 471 (19-5-71 – 19-5-11), Ban biên tập trân trọng giới thiệu bài thơ mang tựa đề “Cung hoàng„ anh gửi tặng CBCNV Công ty.
Cung hoàng
Tặng đồng đội
Công ty Cổ phần 471
Có cô gái yêu tôi không dám ngỏ lời
Và người tôi yêu em không hề biết
Tình bén rễ nuôi xanh mầm biếc
Kẻ cậy quyền nào có hơn ai?
Bốn mươi năm, Bốn bảy một đổi đời
Bao cay cực nay tụ về nắng ấm
Ai trưởng thành từ hạt mì, khúc sắn
Sẽ nên người và biết yêu thương
Bốn mươi năm, vượt nấy chặng đường
Bao trăn trở vòng đời xoay lật
Xin cúi lạy những người đã khuất,
Để xanh chồi cuộc sống hôm nay
Bốn mươi năm, biết nói gì đây?
Xin gửi lại tình nồng đồng đội
Và náu lặng, nghe lời gió nói:
Rằng, người ơi – ta đã thầm thương...
Cửa Lò, 06-01-2011 AL


















Trang Thơ
Một thời để nhớ
Lời BBT : Bùi Minh Quỳnh, sinh năm 1948, quê xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là một trong số ít CBCNV được may mắn có mặt vào những năm tháng đầu thành lập Công ty 471-1971 cho đến tận bây giờ.
Là kỹ sư cầu đường, anh từng tham gia xây dựng nhiều công trình giao thông trên khắp mọi miền đất nước. Hơn ai hết, anh thấu hiểu nỗi vất vả, nhọc nhằn, niềm vui và vinh quang của những người làm đường. Là người yêu thơ, có tâm hồn lãng mạn, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, dù hiểm nguy, dù cái chết luôn cận kề, nhưng anh đã gửi tình yêu lao động, tình yêu cuộc sống, tình đồng đội, nghĩa đồng bào vào những bài viết, trang thơ thắm đượm nghĩa tình... Các bài thơ của anh đã được đăng trên báo Giao thông Vận tải, Người Hà Nội Cuối tuần, tạp chí Bến bờ... .
Thơ anh trong trẻo, dịu dàng, chân chất, hồn hậu như chính con người anh vậy.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số bài thơ anh viết về đồng đội trong những tháng ngày tuổi trẻ, xẻ núi, băng đèo, mở đường cho xe ra tiền tuyền trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại...

Nhớ về ngày ấy
Tặng đồng đội
Công trường 71C - Công ty Cổ phần 471
Nhớ Hương Khê...
sáng ấy nắng hè!
Khu đất trống...
đoàn xe dừng lại
Bụi bám đầy xe tải, xe ca...
Lỉnh kỉnh ba lô...
không cửa, không nhà
Bốn phía mênh mông,
rừng rợp lá
Vọng tiếng chim chiều...
Tháng Năm x­ưa,
gió Lào vội đến
Bữa cơm thường độn sắn, ngô, khoai
Nuốt vội xong, vẫn đói dài trong dạ
Bởi tình yêu chúng mình
dồn cho con đ­ường tất cả
Nhớ làm sao,
những ngày hè Khe Giao, Kim Lũ
Ăn đứng, ngủ ngồi, đội nắng, đội m­ưa,
chặt cây, rải đá, vá đư­ờng,
đưa những đoàn xe ra chiến tr­ường tiếp viện
Nhớ cái rét tái tê,
La Khê, Thanh Luyện...
Pháo sáng thâu đêm, bom đạn réo quanh mình
Thao thức cùng trăng, san hố bom thù,
Kéo những đoàn xe
vượt ngầm La Khê,
vượt ngã ba Đồng Lộc
nối những đư­ờng ray, xiết lại từng đinh ốc,
Quyết tử cho con đường quyết sinh !
Anh gọi tên đường là đường Hồ Chí Minh
Em gọi nôm na là con đường tuyến
Đư­ờng chở niềm vui - kháng chiến
Con đường ta mới mở...
Máu các chị, các anh thấm trên từng cây số,
Hòa cùng tên núi, tên sông...

Bốn m­ươi năm...,
Ôi, sáng hè nay,
trong sắc cầu vồng
Xuyên suốt Bắc Nam, theo hình đất nước
Con đường mang tên Bác
- Đại lộ Nghìn Năm
- Đường Trường Sơn công nghiệp hoá
Con sông Tiêm vẫn xuôi về, êm ả
Và nhịp cầu đã “nối những bờ vui...”
Em ơi, ngày ấy,... đâu rồi?
Em có nghe chim hót gọi bình minh
Bên nhau, hai đứa chúng mình
Trên con đường lịch sử,
Ngào ngạt hương rừng...
Trước và sau,
- “Ngư­ời”,
nối - mãi - Tình - Th­ương ./.
Hương Khê-Vinh, 5 - 2011

Đồng đội
Suốt ngày bom dội tung vách đá
Đồng đội nhường nhau một góc hầm
Cái chết cận kề đâu chuyện lạ
Mở đường quên mất tuổi thanh xuân.

Quảng Bình, 01-11-72

Thuỷ chung
Kỷ niệm 30 năm Công ty đường bộ 471 và đón nhận
danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới
(19-5-1971- 19-5-2001)

Bên nhau, đường hết lại cầu
Sân bay, bến cảng vùng sâu đã từng
Công ty - một mái nhà chung
Ba mươi năm ấy..., Anh hùng... hôm nay
Buồn vui, năm tháng vơi đầy
Ấm tình đồng đội những ngày bên nhau

Tình ta chung thuỷ trước sau
Giản đơn thế đấy! Mà sâu mà nồng
Cho dù đi giữa mênh mông
Lòng mình vẫn nhớ về Công ty này

Thơ tôi viết, dẫu chưa hay
Nhưng là tiếng trái - tim - này - hát - ca !
Vinh, 15-2- 2001

Lời BBT : Nguyễn Sĩ Thành, sinh năm 1954 quê xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nguyên là công nhân Xi nghiệp Đường bộ 471 và cũng chính là nguyên mẫu nhân vật trong chương trình “Người xây tổ ấm„ phát trên sóng VTV1, đài Truyền hình Việt Nam tháng 3 năm 2006.
Anh có nhiều bài thơ đăng trên báo GTVT, Nghệ An, các tập san, tạp chí xuất bản trên mọi miền đất nước. Thơ anh luôn là nỗi trăn trở với bao bộn bề sôi động của cuộc sống đời thường, mang đậm tính nhân văn sâu sắc.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc 2 bài thơ của anh rút trong tập “Bức ký hoạ không màu” do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành 9 - 2009.
Mảnh trời riêng
Nơi em ở- những căn nhà lợp tạm
“Lính công trường” không thích ở... nhà xây
Ai đã đi suốt chiều dài của những dòng sông,
bề sâu, bề rộng tháng ngày
Chắc hiểu được mỗi cuộc đời người thợ ?

Đây mảnh đất miền Trung
nơi chúng em đang ở
E chỉ có thợ đường mới có mảnh trời riêng?

Cơn gió Lào lật chiếc nón em nghiêng
Anh không kịp nhận ra nước da em mịn trắng
Lo đường lắm ổ gà, lo những chuyến xe chở nặng
Lo chiếc cầu mùa mưa khi cơn lũ tràn qua

Cái nắng miền Trung như sấy chín thịt da
Nhưng đường ray bắc chưa xong
hàng còn ứ đọng
Bao trăn trở... như nước sông trôi thầm lặng
Đất nước còn nghèo, em hiểu vậy từ lâu
Em vẫn vui, điều dễ hiểu có gì đâu
Khi bắt gặp nụ cười
của người lái xe trên buồng lái
Khi cơn lũ tràn qua chiếc cầu kia vững chãi
Và những đoàn tầu vẫn tấp nập vào ga

Quê hương là dòng sông,
em xin làm hạt phù sa
Để tháng năm đắp bồi bến bãi
Những công trình đã qua
hôm nay em nhìn lại
Càng yêu thêm đồng đội “lính công trường”
Bỉm Sơn, 1984



Gửi em, cô gái mở đường

Con đường đất ở nơi nào cũng thế
Bụi bay mù sau mỗi chuyến xe qua
Cây cỏ bên đường, một màu bạc thếch
Muốn ngọt bùi, xin đợi đến... mùa hoa

Xe cộ đi qua, người người cứ qua
Nghề làm đường xưa nay vẫn thế
Khó nhận ra người thân, khó nhận ra già trẻ
Bởi giờ làm, quần áo họ giống nhau
Chân đi dày, khăn bịt kín đầu
Chỉ đôi mắt là nét riêng từng người một

Tôi vô tình đi qua một công trình bề bộn
Bỗng giật mình hòn sỏi ném sau lưng
Có tiếng cười ai rõ đến bâng khuâng
Tôi ngoảnh lại nhận ra cô bạn đồng hương
Đôi mắt ấy... với giọng cười vui khỏe

Mười năm rồi bây giờ em vẫn thế
Vẫn hồn nhiên như ngày ở chiến trường
Ngày ấy... em cũng cô gái mở đường
Cùng đồng đội nơi bom gào, đạn xé
Trong câu chuyện tôi biết em đã làm mẹ
Mười năm rồi em rất đỗi thuỷ chung
Hòn sỏi ném đùa ngày ấy sau lưng
Như giọt nước rưới hồn tôi mát rượi

Kỷ niệm chiến trường trong tôi trẻ mãi
Từ phía em, hương thoảng đưa về...
Bỉm Sơn,


Phụ trách nội dung
Nguyễn Văn Toàn
Bí thư Đảng ủy
Bùi Minh Quỳnh
Chuyên viên KT
Chỉ đạo nội dung

Nguyễn Quang Vinh
Chủ tịch Hội đồng quản trị
Vương Đình Ngũ
Phó Bí thư Đảng ủy - Giám đốc công ty


MỤC LỤC





Lời tựa 1
Công ty Cổ phần 471, 40 năm xây dựng và phát triển
Phần I : Thời kỳ từ 1971 – 1975
1. Đảm bảo mạch máu giao thông, tất cả vì miền Nam ruột thịt 13
Phần II : Thời kỳ từ 1976 – 1985
2. Khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh 23
Phần III : Thời kỳ từ 1986 – 2001
Thực hiện công cuộc đổi mới, vươn lên khẳng định thương hiệu 30
Phần IV : Thời kỳ từ 2002 đến nay
1. Thực hiện đổi mới toàn diện doanh nghiệp,
vững bước trong tiến trình hội nhập và phát triển
2. Xây dựng chiến lược phát triển toàn diện, vững chắc, từng bước hoàn thiện, làm chủ công nghệ thi công cầu, hầm
Tài liệu tham khảo :
Phiên hiệu, lãnh đạo Công ty qua các thời kỳ 5
Bí thư Đảng uỷ Công ty qua các thời kỳ 8
Chủ tịch Hội đồng quản trị qua các thời kỳ
Bí thư đoàn Thanh niên qua các thời kỳ 9
Các đội sản xuất trực thuộc
Một số dự án, công trình lớn đã và đang thi công 10
Bảng vàng thành tích 12
Trang thơ 53

Huân chương - Giải thưởng
prev
  • Huân chương Độc Lập hạng Ba
  • Huân chương Lao Động hạng Nhất
  • Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới
  • Huân chương Lao Động hạng Ba
  • Huân chương Lao Động hạng Nhì
next
Dự án tiêu biểu